|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ CAM RANH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH KHÁNH HÒA |
|
Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày: 20/3/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Ngọc Hương
- Bà Phan Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh - tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 184/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2025/QĐST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Trần Hoàng T - sinh ngày 15 tháng 10 năm 1994, tại tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn T, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Võ Thị H1; vợ, con: chưa.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Tại bản án số 50/2016/HSST ngày 06 tháng 7 năm 2016 Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xử phạt 03 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 26/4/2018. Chấp hành xong án phí ngày 05/01/2017.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
1
- Trương Nguyễn Hoàng P - sinh ngày 10 tháng 6 năm 2000, tại tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Phước T1 và bà Nguyễn Thị Bích L; vợ, con: chưa.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Quyết định số 31/QĐ-TA ngày 09 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh quyết định áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng.
Bị cáo đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Tô Gia B, sinh năm: 2009; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Tô Gia B: Bà Hồ Thị T2, sinh năm: 1985, Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Huỳnh Hữu N, sinh năm: 1995; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Huỳnh Văn T3, sinh năm: 1990; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng: Nguyễn Hữu T4, sinh năm: 1989; Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- Phạm Thị Kim O, sinh năm: 1977; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- Phạm Thị Cẩm N1, sinh năm: 1999; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- Nguyễn Cửu H2, sinh năm: 2005; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
2
Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 15/5/2024, Trần Hoàng T đến chơi game tại quán Z ở tổ dân phố T, phường C, thành phố C. T đi vào trong quán thì thấy trên bàn máy tính số 25 có điện thoại đi động hiệu Apple Iphone 12 có gắn ốp lưng của Tô Gia B, không có người trông coi. T lấy trộm điện thoại rồi đi về nhà Trương Nguyễn Hoàng P. T nói cho P biết là điện thoại T lấy trộm được tại quán nét Z, nhờ P đi phá khóa mật khẩu điện thoại, nếu phá được mật khẩu thì đưa lại điện thoại cho T sử dụng, còn nếu không được thì khi nào chủ điện thoại liên hệ thì cho chuộc 500.000 đồng. P đồng ý. Sau đó, P không đi phá khóa mật khẩu điện thoại mà bán điện thoại cho Huỳnh Hữu N với giá 900.000 đồng. Khi T hỏi thì P nói dối không phá khóa mật khẩu điện thoại được mà có người gọi xin chuộc lại điện thoại thì T nói cho chuộc với giá 500.000 đồng. P nhờ Nguyễn Cửu H2 chuyển 500.000 đồng vào số tài khoản của Phạm Thị Kim O (chủ quán Z) để đưa cho T. Đến ngày 16/5/2024, N bán điện thoại cho Huỳnh Văn T3 với giá 2.000.000 đồng. T3 đã tháo rời điện thoại để bán phụ kiện được 2.000.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 97KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: 01 điện thoại đi động hiệu Apple Iphone 12, trị giá 10.791.000 đồng; 01 ốp lưng điện thoại đi động hiệu Apple Iphone 12, trị giá 25.000 đồng. Tổng trị giá 10.816.000 đồng.
- Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKSCR-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh - tỉnh Khánh Hòa đã truy tố để xét xử Trần Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; Trương Nguyễn Hoàng P về tội “Tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, tuyên phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù.
Tuyên bố bị cáo Trương Nguyễn Hoàng P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, tuyên phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại, đề nghị Tòa không xem xét.
3
Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã nêu và cho rằng việc truy tố các bị cáo là đúng. Bị cáo T và bị cáo P xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo an tâm cải tạo tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định:
Khoảng 13 giờ 45 phút, ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại quán Z ở tổ dân phố T, phường C, thành phố C, bị cáo T đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút trộm cắp tài sản của Tô Gia B là 01 điện thoại Apple Iphone 12 có gắn ốp lưng trị giá 10.816.000 đồng. Hành vi của Trần Hoàng T đủ cơ sở cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Trương Nguyễn Hoàng P biết việc bị cáo T trộm cắp tài sản là 01 điện thoại Apple Iphone 12 có gắn ốp lưng nhưng vẫn đồng ý giúp bị cáo T đi bẻ khóa màn hình và bán điện thoại trên để lấy tiền tiêu xài, vậy hành vi của bị cáo P đủ cơ sở cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Quyết định truy tố của Viện kiểm sát thành phố C đối với bị cáo T và bị cáo P là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo
4
vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, xã hội ở địa phương. Bản thân các bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo T đã bị xử phạt 03 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng không lấy đó là bài học kinh nghiệm lại tiếp tục phạm tội, vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo an tâm cải tạo, sớm hòa nhập cộng đồng làm công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự: Bị cáo T phạm tội đối với người dưới 16 tuổi nên áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Bị cáo P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về vật chứng vụ án: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- + Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về biện pháp tư pháp và các vấn đề khác:
Sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính khi bán điện thoại di động Apple Iphone 12 như sau:
- + Huỳnh Hữu N phải nộp lại số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng);
- + Trần Hoàng T phải nộp lại số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
- + Trương Nguyễn Hoàng P phải nộp lại số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
5
Căn cứ vào:
- - Điều 292, Điều 293, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Điều 47 Bộ luật hình sự;
- - Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 điều 52; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T;
- - Điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự đối với bị cáo P;
- Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Trần Hoàng T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Tuyên bố bị cáo Trương Nguyễn Hoàng P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- - Xử phạt bị cáo Trương Nguyễn Hoàng P 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về vật chứng vụ án: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về biện pháp tư pháp và các vấn đề khác:
- + Huỳnh Hữu N phải nộp lại số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng);
- + Trần Hoàng T phải nộp lại số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
- + Trương Nguyễn Hoàng P phải nộp lại số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).
- Về án phí: Bị cáo Trần Hoàng T, Trương Nguyễn Hoàng P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời
Sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính khi bán điện thoại di động Apple Iphone 12 như sau:
6
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Nga |
7
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Trần Hoàng T-TCTS
