Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HSST

Ngày 20-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Như Thủy;
  • 2. Bà Trương Thị Đạt.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Thế T, tên gọi khác: Nguyễn Thanh S; giới tính: N, sinh năm 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số A H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 07/12; Con ông Phạm Văn Đ (đã chết) và bà Bùi Thị T1; Chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2020/HSST ngày 25/3/2020 của Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/5/2023.

Nhân thân:

  • Bản án hình sự sơ thẩm số 492/HSST ngày 03/7/2002 của Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2005/HSST ngày 22/7/2005 của Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
  • Bản án hình sự sơ thẩm số 150/2008/HSST ngày 19/9/2008 của Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
  • Bản án hình sự sơ thẩm số 307/2013/HSST ngày 26/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
  • Quyết định số 69/2016/QĐ-TA ngày 26/4/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2024, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Công ty TNHH T2; Trụ sở chính: Số C Lô D, KDC T, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH T2: Ông Văn Ngọc S1, sinh năm 1982; Địa chỉ: C Dự án Công ty Đ1, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 2004; Địa chỉ: Số A Lô C, KDC T, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thế T không có việc làm ổn định, có tiền án tái phạm nguy hiểm về tội trộm cắp tài sản. Sau khi chấp hành xong án phạt tù năm 2023, T đi bán vé số dạo và về cư trú tại địa chỉ số A H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vào khoảng 05 giờ 30 phút, ngày 15/10/2024, Bùi Thế T đi bộ bán vé số từ nhà đến Hẻm G H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi đến trước trụ sở Công ty TNHH T3 Lô D, KDC T, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, T phát hiện một xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, biển số 59C4-179.99, đang đậu trên vỉa hè, không có người trông coi, trên xe có cấm sẵn chìa khóa. T tiến lại gần xe, lấy nón bảo hiểm đang treo trên xe đội lên đầu, T lên xe, lùi chiếc xe xuống đường, quay đầu xe và mở chìa khóa xe chuẩn bị tuẩn thoát. Quá trình lùi xe chuẩn bị tẩu thoát T bị ngã xe gây ra tiếng động lớn. Nên lúc này, ông Nguyễn Thanh V (người được công ty TNHH T2 ủy quyền quản lý xe để giao hàng cho công ty) phát hiện T trộm cắp xe nêu trên. Khi phát hiện ông V nhanh chóng tiến lại hỏi T. T cởi nón bảo hiểm đưa ông V và xuống xe bỏ chạy. T chạy được một đoạn đến trước địa chỉ D Lô D, KDC T, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị ông Nguyễn Thanh V cùng người dân đuổi theo khống chế, bắt giữ quả tang giao Công an phường P, Quận G xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, T khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 345/KL-HĐĐGTTHS ngày 21/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G kết luận: 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 59C4-179.99, sản xuất năm 2022, có giá trị 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng.

* Vật chứng vụ án:

  • 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, biển số 59C4-179.99, số khung: RLHJA3849NY13849, số máy: JA52E0439736, đã qua sử dụng.

Qua xác minh: xe trên do Công Ty TNHH T2 đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Công ty TNHH T2 ủy quyền giao cho ông Nguyễn Thanh V quản lý và sử dụng xe trên để giao hàng cho công ty đến ngày 15/10/2024 thì bị T chiếm đoạt.

  • 01 (Một) nón bảo hiểm màu cam, có chữ “ShopeeFood”, đã qua sử dụng.
  • 01 (Một) chìa khóa xe màu đen, có chữ “Honda”, đã qua sử dụng.

* Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì khác.

Bản cáo trạng số 29/CT-VKSQ7 ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Bùi Thế T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Bùi Thế T thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt tài sản là 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, biển số 59C4-179.99 của Công Ty TNHH T2 có giá trị là 15.000.000 đồng. Bị cáo Bùi Thế T có tiền án tái phạm nguy hiểm về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Bùi Thế T về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Bùi Thế T từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm 06 tháng tù;
  • Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và ông Nguyễn Thanh V đã nhận lại tài sản chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị không xét.
  • Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra công an Q đã xử lý xong nên đề nghị không đặt ra xem xét.

Bị cáo Bùi Thế T đã thừa nhận hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” như đã nêu trên, không tranh luận gì, bị cáo biết lỗi và nói lời sau cùng: bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án khoan hồng để bị cáo sớm trở về nuôi mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Bùi Thế T đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản là: 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, biển số 59C4-179.99 của Công Ty TNHH T2 có giá trị là 15.000.000 đồng. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Bùi Thế T có tiền án tái phạm nguy hiểm về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhằm thu lợi bất chính một cách cố ý nên thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tài sản thu hồi đã trả được cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về vật chứng vụ án: 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, biển số 59C4-179.99, số khung: RLHJA3849NY13849, số máy: JA52E0439736, đã qua sử dụng; 01 (Một) nón bảo hiểm màu cam, có chữ “ShopeeFood” và 01 (Một) chìa khóa xe màu đen, có chữ “Honda”, đã qua sử dụng. Qua xác minh: xe trên do Công Ty TNHH T2 đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Công ty TNHH T2 ủy quyền giao cho ông Nguyễn Thanh V quản lý và sử dụng xe trên để giao hàng cho công ty đến ngày 15/10/2024 thì bị T chiếm đoạt.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại 01 chìa khóa xe và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, biển số 59C4-179.99, số khung: RLHJA3849NY13849, số máy: JA52E0439736 cho Công Ty TNHH T2 và trả lại 01 nón bảo hiểm cho ông Nguyễn Thanh V. Do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và ông Nguyễn Thanh V đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm, tại phiên tòa vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Bị cáo, bị hại và người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt:

Bị cáo Bùi Thế T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn tù được tính từ ngày 15/10/2024.

  • Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo Bùi Thế T phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
  • Căn cứ Khoản 1 Điều 333, Khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 7;
  • - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ sở Quận 7;
  • - Chi cục THADS Quận 7;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ, Công an Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu sổ án;
  • - Lưu vp, hồ sơ. (Tk. V.Phương).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Luyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HSST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 32/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tù có thời hạn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger