|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HS-PT
Ngày: 14 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kiều Hương
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Phấn
Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Viết Ngọc – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 222/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Vĩnh T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Vĩnh T và bị hại Nguyễn Thị N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 113/2024/HS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Vĩnh T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 02 tháng 02 năm 1970 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm B, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Vĩnh Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1; có vợ: Đậu Thị N2 sinh năm 1972 và 03 con; tiền án: không; tiền sự: Ngày 11/4/2024, bị Trưởng Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích, đã thi hành xong; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn G – Luật sư Công ty L – Đoàn luật sư N3. Có mặt.
- Bị hại có kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1979. Địa chỉ: Xóm T, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Trần Văn H, sinh năm 1980. Hộ khẩu thường trú: Đường N, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
1
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Trần C, công tác tại Công ty L1, Đoàn luật sư Hà Nội. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đậu Thị N2, sinh năm 1972. Địa chỉ: Xóm B, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1959. Địa chỉ: Xóm T, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 22/06/2024, Nguyễn Vĩnh T điều khiển xe ô tô đến nhà bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1930, trú tại xóm T, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An để thăm ốm. Khi T vào nhà thì chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1979, trú tại xóm T, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An điều khiển xe mô tô đến đưa xăng cho ông Nguyễn Vĩnh P, xóm trưởng xóm T trước cổng nhà bà V. Do có mâu thuẫn trong việc gửi tiền trước đó, khi thấy T đi vào cổng, chị N nhiều lần nói: “Cu Tám đồ ăn cướp, đồ ăn cướp”, T im lặng ngồi uống nước. Chị N tiếp tục chửi bới T, T đứng dậy nói: “Con ni tau phải ra đập cho trận”. Nghe T nói vậy, bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969, trú tại xóm T, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An (con dâu bà V) liền can ngăn không cho T đánh chị N.
Đến khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đi về từ nhà bà V, khi đến ngã ba xóm T, T thấy chị N đang đứng nói chuyện với chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1988, trú tại xóm T, xã M, huyện Y, bức xúc vì bị chửi trước đó, T bước xuống xe ô tô, đi đến vị trí chị N đang đứng, dùng tay phải tát một cái vào mặt khiến chị N bị ngã ngửa, phần đầu phía sau bị đập xuống mặt đường. Khi chị N ngã, T dùng cả hai tay và chân đấm, đá liên tục vào vùng mặt, vùng đầu và vùng ngực chị N. Chị N nằm sấp, hai tay ôm đầu, T tiếp tục dùng chân đá, dẫm lên vùng lưng của chị N. Đánh được một lúc, T dừng lại rồi đi về phía xe ô tô lấy tập phiếu chuyển đơn (đơn chị N tố cáo T). Chị N đứng dậy, lấy điện thoại gọi cho ông P, xóm trưởng xóm T để báo tin, chưa kịp báo tin, T quay lại chửi và tiếp tục dùng tay nhiều lần đấm vào vùng mặt, dùng chân đá nhiều lần vào vùng đùi của chị N. Thấy vậy, chị N vừa bỏ chạy vừa chửi T “mả cha mi Tám Ngoạn”. Nghe thấy thế, ông Nguyễn Vĩnh T2, sinh năm 1963 và ông Nguyễn Vĩnh T3, sinh năm 1969, cùng trú tại xóm T, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An từ trong nhà đi ra đứng xem. Khi nghe chị N chửi T, ông T3 bức xúc và nói: “Chửi cha thì cho đập chết”, “Nhung ạ, anh mô mần thì anh nó chịu tội, mi đừng xúc phạm đến cha tau” và nói T quay về. T đuổi theo chị N, chị N chạy vào nhà ông Nguyễn Vĩnh
2
H2 chốt cửa để trốn. T không đuổi được chị N, quay ra điều khiển xe ô tô đi về.
Sau đó chị N được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N. Đến ngày 23/06/2024, chị N ra viện, viết đơn gửi cơ quan Công an yêu cầu điều tra làm rõ và xử lý nghiêm. Cùng ngày, chị Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật và yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại biên bản khám xét dấu vết trên thân thể chị Nguyễn Thị N ngày 22/06/2024 thể hiện trên thân thể chị N có các dấu vết: 01 (một) vết sưng gò má bên trái phía dưới tai trái, không bị bầm tím; 01 (một) vết thương hở tại khóe mắt bên trái, đường kính dài 02cm, có chảy máu; 01 (một) vết sưng bầm tím ở gấp mũi phía bên trái; 01 (một) vết sưng ở phía sau đầu, phía dưới bên trái đầu, không bị bầm tím; 01 (một) vết sưng gò má bên phải, không bị bầm tím; 01 (một) vết sưng ở phía trên trán bên phải, không bị bầm tím. Ngoài ra không có dấu vết gì khác.
Ngày 25/06/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 1013/QĐ-CQĐT ngày 25/06/2024 trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh N giám định thương tích cơ thể của chị Nguyễn Thị N.
Tại bản Kết luận giám định số số 317/KLTTCT-TTPY ngày 01/07/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị N là 18% (Mười tám phần trăm);
Kết luận khác: Một đám bầm tím, sưng nề trán bên phải; một vết thương khóe mắt bên trái; một đám thâm nhạt màu gò má bên phải; một đám thâm nhạt màu gò má bên trái; gãy xương hàm trên là do vật tày tác động nên, có chiều hướng từ trước ra sau; Một đám bầm tím, sưng nề thái dương; một đám bầm tím, sưng nề mũi bên trái; gãy xương mũi bên trái do vật tày tác động gây nên, chiều hướng từ bên trái sang phải.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2024/HS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vĩnh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Vĩnh T 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 17/07/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 590 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Buộc bị cáo Nguyễn Vĩnh T phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị N số tiền 30.252.700 đồng (Ba mươi triệu hai trăm năm mươi hai ngàn bảy trăm đồng).
3
Chị Nguyễn Thị N còn được nhận số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành theo biên lai thu tiền số: 0001456 ngày 10/9/2024 (Biên lai thể hiện người nộp tiền bà Đậu Thị N2).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 31/10/2024, bị cáo Nguyễn Vĩnh T làm đơn kháng cáo với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo và đơn kháng cáo bổ sung đề ngày 10/11/2024 đề nghị cấp phúc thẩm xem xét các nội dung:
- - Huỷ bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành vì không khách quan, có dấu hiệu bao che cho hành vi phạm tội của bị cáo.
- - Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Vĩnh T 10 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” là quá nhẹ so với tính chất hành vi côn đồ, tái phạm nhiều lần, bị cáo không thành khẩn khai báo, chưa ăn năn hối cải, không tương xứng với động cơ, mục đích và hành vi của bị cáo.
- - Xem xét và tăng mức bồi thường thiệt hại cho bị hại.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên nội dung yêu cầu kháng cáo. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã cung cấp thêm tình tiết mới: Huân chương kháng chiến hạng Nhì của ông Nguyễn Vĩnh Đ1 (bố đẻ bị cáo); 01 Giấy xác nhận của Phó hiệu trưởng trường THCS M, huyện Y xác nhận “Ông Nguyễn Vĩnh T đã có tấm lòng hảo tâm tặng xe đạp cho học sinh nghèo vượt khó”, bị cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại Nguyễn Thị N rút một phần kháng cáo về nội dung hủy bản án sơ thẩm; tiếp tục đề nghị cấp phúc thẩm xét xử theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo và giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 345; Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của bị hại, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2024/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Vĩnh T về việc bồi thường thêm cho bị hại Nguyễn Thị N số tiền 25.000.000 đồng.
Về án phí: Xử lý theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh đối với bị cáo; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ mới đã được cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo
4
thống nhất với nội dung tranh luận của luật sư Nguyễn Văn G, không có ý kiến gì thêm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại tranh luận: sau khi phạm tội bị cáo Nguyễn Vĩnh T không thực hiện bồi thường thiệt hại một cách tự nguyện mà bồi thường cho bị hại với thái độ khiên cưỡng nhằm mục đích để bị hại rút đơn không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không khai báo thành khẩn, không ăn năn hối cải vì nhiều lần bị cáo thể hiện thái độ thách thức bị hại, hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, do đó việc áp dụng các tình tiết điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là không phù hợp, cần xem xét tăng hình phạt để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật. Về việc bồi thường thiệt hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo yêu cầu của bị hại Nguyễn Thị N.
Bị hại Nguyễn Thị N và người đại diện theo ủy quyền thống nhất với nội dung tranh luận của ông Trần C.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Giữ nguyên quan điểm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo, bị hại có đơn kháng cáo được gửi trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Thị N rút một phần yêu cầu kháng cáo về việc Hủy bản án sơ thẩm, xét yêu cầu của bị hại là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật, và có liên quan đến kháng cáo khác của bị hại nên căn cứ khoản 3 Điều 342 và Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu Hủy bản án sơ thẩm của bị hại Nguyễn Thị N.
[2] Về nội dung: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phù hợp với lời khai bị hại, những người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định thương tích, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 22/06/2024, tại khu vực ngã ba xóm T, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An, xuất phát từ mâu thuẫn xảy ra trước đó, Nguyễn Vĩnh T đã có hành vi dùng tay tát vào mặt chị Nguyễn Thị N (sinh năm 1979), dùng cả hai tay và chân đấm, đá liên tục
5
vào vùng mặt, vùng đầu, vùng đùi và vùng ngực gây thương tích cho chị Nguyễn Thị N tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 18% (Mười tám phần trăm), vì vậy hành vi của bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét các nội dung kháng cáo của bị cáo, kháng cáo của bị hại, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Bị cáo Nguyễn Vĩnh T chưa có tiền án; có 01 tiền sự về hành vi “Cố ý gây thương tích” đã bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa bị cáo và bị hại đã diễn ra từ thời gian trước đó. Sau khi phạm tội và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo Nguyễn Vĩnh T luôn khai báo đầy đủ, rõ ràng, thừa nhận hành vi của mình là trái pháp luật cũng như tác động đến người nhà bồi thường thiệt hại cho bị hại nhằm khắc phục hậu quả nên không có căn cứ nói rằng bị cáo khai báo thiếu thành khẩn, không ăn năn hối cải như ý kiến của bị hại và luật sư bảo vệ cho bị hại tại phiên tòa phúc thẩm.
Sau khi phạm tội, tuy bị cáo bị tạm giữ tạm giam nhưng đã tác động tích cực đến vợ là bà Đậu Thị N2 bồi thường thiệt hại nhằm khắc phục hậu quả, mặc dù không trực tiếp giao cho bị hại nhưng đã nộp tại cơ quan thi hành án dân sự huyện Y số tiền 20.000.000đồng theo Biên lai thu tiền ngày 10/9/2024; Ngoài ra, trong quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo có nhiều hoạt động thiện nguyện, mang lại nhiều giá trị tích cực cho xã hội, gia đình bị cáo có anh trai ruột là Nguyễn Vĩnh H3 là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá đầy đủ, khách quan, áp dụng đúng quy định pháp luật.
- Sau khi xét xử sơ thẩm bà Đậu Thị N2 là vợ của bị cáo Nguyễn Vĩnh T tiếp tục nộp đủ số tiền bồi thường cho bị hại theo Phiếu thu tiền số 0001480 ngày 05/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm gia đình bị cáo cung cấp thêm 01 chứng thực bản sao Huân chương kháng chiến hạng Nhì của ông Nguyễn Vĩnh Đ1 (bố đẻ bị cáo); 01 giấy xác nhận của Phó hiệu trưởng trường THCS M, huyện Y xác nhận “Ông Nguyễn Vĩnh T đã có tấm lòng hảo tâm tặng xe đạp cho học sinh nghèo vượt khó”. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự chưa được áp dụng ở cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm cần xem xét áp dụng cho bị cáo. Tuy nhiên xét thấy, mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khỏe của công dân (đặc biệt là phụ nữ) được pháp luật bảo vệ, hành vi đó còn gây mất trật tự trị an xã hội, bản thân bị cáo có 01 tiền sự về hành
6
vi “cố ý gây thương tích” bị xử phạt hành chính nên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 10 tháng tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt đã đảm bảo sự nghiêm minh và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, nên không có căn cứ để giảm hình phạt cho bị cáo.
Bị hại kháng cáo đề nghị xét xử theo hướng tăng hình phạt tù nhưng không cung cấp thêm tình tiết mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của bị hại.
- Về yêu cầu bồi thường thiệt hại: căn cứ các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 của Bộ luật dân sự thì các chi phí mà bị cáo Nguyễn Vĩnh T phải bồi thường cho bị hại bao gồm: Chi phí cho việc cứu chữa (gồm tiền thuốc, viện phí, chi phí điều trị, đi lại...); Tiền bồi dưỡng sức khỏe, chi phí phục hồi sức khỏe cho bị hại; bồi thường thu nhập thực tế bị mất của bị hại, người chăm sóc.
Tòa cấp sơ thẩm đã tính toán và buộc bị cáo bồi thường cụ thể như sau: Chi phí cho việc cứu chữa (gồm: Chi phí thuốc men theo hóa đơn là: 1.922.700 đồng; Y sao bệnh án: 90.000 đồng; 4 chuyến xe đi và về điều trị thăm khám tại bệnh viện: 2.400.000 đồng;) tổng cộng: 4.412.700 đồng; Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho bị hại (148.000đ x 15 ngày) = 2.220.000 đồng; Chi phí phục hồi sức khỏe cho bị hại (148.000₫ x 15 ngày)= 2.220.000 đồng; Tiền bồi thường thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút (60 ngày x 250.000đ/ngày)= 15.000.000 đồng; Bồi thường thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bị hại (200.000đ/ngày x 15 ngày)= 3.000.000 đồng; Tiền bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại bằng (10 lần mức lương cơ sở x 2.340.000)= 23.400.000 đồng. Tổng cộng là 50.252.700 đồng. Ghi nhận bị cáo Nguyễn Vĩnh T đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị N toàn bộ số tiền 50.252.700 đồng theo các Biên lai thu tiền số 0001456 ngày 10/9/2024 và Biên lai thu tiền số 0001480 ngày 05/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Mức bồi thường dân sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với mức độ, hậu quả xảy ra, tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại và phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị hại không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới để xem xét nội dung kháng cáo, do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị hại về yêu cầu cấp phúc thẩm điều tra lại, xét xử lại vụ án theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo và bồi thường dân sự, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Vĩnh T có nguyện vọng bồi thường thêm cho bị hại số tiền 25.000.000 đồng nhằm khắc phục hậu quả, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo.
[4]. Về án phí: kháng cáo của bị cáo Nguyễn Vĩnh T không được chấp nhận
7
nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Do bị cáo Nguyễn Vĩnh T tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại (chưa thi hành) nên phải phải chịu án phí dân sự.
Bị hại Nguyễn Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 342 và Điều 348; Điều 345; Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với một phần yêu cầu kháng cáo Hủy bản án sơ thẩm của bị hại Nguyễn Thị N.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Vĩnh T và kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 113/2024/HS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Vĩnh T 10 (Mười) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 17/07/2024.
2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 590 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Vĩnh T về việc tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị N số tiền 25.000.000 (hai lăm triệu) đồng. Buộc bị cáo Nguyễn Vĩnh T bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị N tổng số tiền 75.252.700 đồng (Bảy mươi lăm triệu hai trăm năm hai ngàn bảy trăm đồng); khấu trừ số tiền 52.974.335 (năm mươi hai triệu chín trăm bảy mươi bốn ngàn ba trăm ba mươi lăm) đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo các Biên lai thu tiền số 0001456 ngày 10/9/2024 và số 0001480 ngày 05/11/2024. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị N số tiền 22.278.365 (hai mươi hai triệu hai trăm bảy tám ngàn ba trăm sáu lăm) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
8
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.
3.1. Án phí hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Vĩnh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3.2. Án phí dân sự: bị cáo phải nộp 557.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Đoàn Thị Kiều Hương |
9
Bản án số 32/2025/HS-PT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 32/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Vĩnh Tám phạm tội "Cố ý gây thương tích"
