Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày 13 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn và bà Hồ Thị Kim Liên.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Trường S, sinh ngày 25 tháng 6 năm 2006 tại huyện T, tỉnh An

Giang; Nơi cư trú: không có nơi đăng ký thường trú; Nơi ở hiện tại: số E, tổ B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S1 và bà Đỗ Thị Thùy D; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/7/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực L (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Đơn Thành D1, sinh ngày 08/12/2009. Vắng mặt

Người đại diện hợp pháp của D1: bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1970. Cùng nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt

- Lê Thị Ngọc N, sinh ngày 01/7/2009. Vắng mặt

Người đại diện hợp pháp của N: bà Nguyễn Thị Năm N1, sinh năm 1964.

Cùng nơi cư trú: số C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 29 tháng 7 năm 2024, Công an phường Đ (nay là Công an phường M), thành phố L tuần tra đảm bảo an ninh trật tự và phòng chống tội phạm trên địa bàn phường Đ (nay là phường M), khi đến đoạn đường H thuộc tổ E, khóm Đ, phường M, thành phố L, thì thấy Nguyễn Trường S điều khiển xe mô tô biển số 51V3-8886 chở phía sau Đơn T và Lê Thị Ngọc N, có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng công an ra tín hiệu dừng xe mô tô 51V3-8886 để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, lực lượng công an phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của S đang mặc có 01 gói nilon trong suốt, hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, nên lực lượng công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với S và thu giữ vật chứng.

* Vật chứng thu giữ, gồm:

  • - 01 gói nilon trong suốt, hàn kín hai đầu bên trong có chứa tinh thể màu trắng được niêm phong trong hộp giấy dán kín bên ngoài có in hình dấu trong màu đỏ của Công an phường Đ, Công an thành phố L và các chữ ký ghi tên Nguyễn Trần Q, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Trường S, Lê Thị Ngọc N, Dưỡng Thanh Kiều P.
  • - 01 xe mô tô biển số 51V3 -8886, màu xanh, số máy 52FMH601688, số khung 6MM-51601688;
  • - 01 quần màu đen phía trước bên phải có in chữ “CATEN BROS” đã qua sử dụng.

* Kết luận giám định số 1802/KL-KTHS ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh A, xác định: 01 hộp giấy màu trắng được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Trần Q, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Trường S, Lê Thị Ngọc N, Dưỡng Thanh Kiều P bên trong có 01 gói nilon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1845 gam.

* Kết luận giám định số 242/KL-KTHS ngày 16 tháng 02 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh A: Xe mô tô biển số 51V3-8886, màu xanh, số máy 52FMH601688, số khung 6MM-51601688, có số khung, số máy không bị đục sửa, không bị cắt hàn, không bị tẩy xóa.

Quá trình điều tra, Nguyễn Trường S khai nghiện ma túy, đã nhiều lần mua ma túy đá của một người đàn ông tên Q1 (không rõ họ tên) để sử dụng. Đồng thời, S khai đã bán ma túy 02 lần, cụ thể: Lần đầu, khoảng đầu tháng 7 năm 2024, Q1 bán ma túy cho người mua tại khu vực cây xăng N2 (thuộc phường M, thành phố L), sau khi thỏa thuận số lượng, giá, địa điểm giao nhận ma

túy thì Q1 kêu S đi giao ma túy cho người mua, S đồng ý, nên Q1 đưa cho S gói thuốc lá hiệu “Yett” bên trong có để sẵn gói ma túy đá, S điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) của Q1 đi giao ma túy cho người mua, sau khi giao ma túy xong Q1 trả công cho S 50.000 đồng và cho S sử dụng ma túy không lấy tiền. Lần thứ hai, khoảng 23 giờ 30 phút ngày 29 tháng 7 năm 2024, S điều khiển xe mô tô 51V3 -8886 chở Đơn T đến giữa cầu M thuộc phường M, thành phố L thì gặp Q1 và hai thanh niên (không rõ nhân thân) đang ngồi trên cầu, S dừng xe mô tô 51V3 -8886 ở chân cầu đi bộ qua gặp Q1 để trả tiền, Q1 kêu Sanh giao ma túy để Q1 bán cho khách tại khu vực cây xăng N2 với tiền công là 50.000 đồng và đổ 02 lít xăng vào xe mô tô 51V3 -8886 cho S, S đồng ý nên Q1 đưa cho S gói thuốc lá hiệu “Yett” bên trong có để sẵn gói ma tuý đá, S lấy để vào túi quần bên trái rồi điều khiển xe mô tô 51V3 -8886 chở D1 đi, S tiếp tục điều khiển xe mô tô 51V3 -8886 chở D1 đến nhà Lê Thị Ngọc N thuộc phường M, thành phố L để rước N đi chơi rồi điều khiển xe mô tô 51V3 -8886 đến điểm hẹn để giao ma tuý. Khi S điều khiển xe mô tô 51V3 -8886 đến đoạn đường H thuộc khóm Đ, phường M, thành phố L thấy lực lượng công an nên Sanh dừng xe mô tô 51V3 -8886 để N và D1 đi bộ còn S điều khiển xe mô tô 51V3 -8886 đi thêm một đoạn Sanh ngừng lại lấy gói ma túy đá để vào túi quần bên phải rồi ném bỏ gói thuốc “Yett”, xong S điều khiển xe mô tô 51V3 -8886 quay lại rước N và D1 thì bị lực lượng công an kiểm tra hành chính và phát hiện ma túy trên người Sanh.

Đơn Thành D1 và Lê Thị Ngọc N trình bày: Xe mô tô biển số 51V3 -8886 của D1, việc S bán ma túy và có cất giấu ma túy trong người, D1 và N không biết.

Tại Cáo trạng số: 58/CT-VKSLX ngày 27 tháng 02 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Trường S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo S khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng nêu trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường S từ 07 năm đến 08 năm tù. Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả 01 xe mô tô biển số 51V3 -8886, màu xanh, số máy 52FMH601688, số khung 6MM-51601688 cho chủ sở hữu; tịch thu tiêu huỷ ma túy còn lại sau khi giám định, 01 quần màu đen phía trước bên phải có in chữ “CATEN BROS” đã qua sử dụng. Buộc bị cáo

nộp số tiền 50.000 đồng vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên toà, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Trường S đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 29/7/2024, tại khu vực đường H, tổ E, khóm Đ, phường Đ (nay là M) thành phố L, tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Trường S đã có hành vi cất giữ trái phép 01 gói ni lông chứa tinh thể màu trắng, qua giám định xác định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1845 gam với mục đích bán ma túy cho đối tượng nghiện thì bị Lực lượng Công an phường Đ (nay là M) kiểm tra, bắt quả tang. Đồng thời, bị cáo S khai nhận đã bán ma túy 02 lần, lần đầu vào đầu tháng 7/2024, bị cáo bán ma túy hưởng lợi được 50.000 đồng; lần thứ hai ngày 29/7/2024 đang trên đường đi giao ma túy cho người mua thì bị bắt.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Trường S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân xảy ra nhiều loại tội phạm khác. Do đó, cần phải xét xử thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra nên cố gắng làm việc để tạo ra giá trị cho gia đình và xã hội nhưng bị cáo lại cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhằm thu lợi, cũng như muốn thoả mãn nhu cầu sử dụng ma tuý cho bản thân. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; xuất thân từ thành phần lao động nghèo, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về vật chứng: Bị cáo hưởng lợi 50.000 đồng từ việc phạm tội, do đó buộc bị cáo nộp 50.000 đồng vào ngân sách nhà nước.

Đối với toàn bộ số ma túy đã thu giữ, đây là loại hàng hóa nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với quần jean màu đen không còn giá trị sử dụng nên Tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô biển số 51V3-8886 màu xanh của Đơn Thành D1 không liên quan đến việc phạm tội do đó trả lại cho chủ sở hữu.

[7] Về các vấn đề khác: Đơn Thành D1 và Lê Thị Ngọc N không biết S cất giấu ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không quy kết trách nhiệm đối với D1, N là có căn cứ. Lê Tài Đ (Quẹo) hiện không có mặt tại địa phương, ngoài lời khai của S không có chứng cứ khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường S 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/7/2024).

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Bị cáo Nguyễn Trường S có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 50.000 đồng.
  • - Tịch thu tiêu huỷ: mẫu vật còn lại sau khi giám định trong 01 phong bì được niêm phong (vụ số 1082/KL-KTHS ngày 02 tháng 8 năm 2024 có chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Trần Nhân H1); 01 quần sọt Jean màu đen đã qua sử dụng;
  • - Trả lại 01 chiếc xe mô tô biển số 51V3-8886 màu xanh đã qua sử dụng cho Đơn Thành Duy.

(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh An Giang với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang)

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Trường S phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND thành phố Long Xuyên;
  • - Công an thành phố Long Xuyên;
  • - CQTHAHS Công an TP.Long Xuyên;
  • - Phân trại tạm giam Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Long Xuyên;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt 07 năm tù, khoản 2
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger