Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC KẠN

TỈNH BẮC KAN

Bản án số: 32/2025/HSST

Ngày 11/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Bùi Văn Khiếu;

2/ Ông Lý Văn Chỉnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Sằm Thị Bến - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2025/TLST - HS ngày 24/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 26/02/2025 đối với bị cáo:

Mạn Văn B; tên gọi khác: Không; sinh ngày 29/3/1973 tại Bắc Kạn; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mạn Văn H (Đã chết) và bà: Hà Thị H1 (Đã chết); vợ: Hoàng Thị T; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2005; tiền sự: không.

Tiền án: 01, ngày 19/4/2022 Mạn Văn B bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 23/5/2023 Mạn Văn Bằng chấp hành án xong, trở về địa phương sinh sống. Tính đến ngày 19/11/2024 chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B từ ngày 19/11/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 20 phút ngày 19/11/2024, tại khu vực thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Phòng CSĐTTP về ma túy, Công an tỉnh B bắt người phạm tội quả tang đối với Mạn Văn B (sinh năm 1973, trú tại: Thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ trong lòng bàn tay trái của Mạn V (một) gói được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu xanh (loại giấy lịch) bên trong có 01 (một) ống nhựa màu trắng được bịt kín hai đầu, bên trong ống nhựa có chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy) (được niêm phong trong phong bì ký hiệu B1). Ngoài ra không thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì khác.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mạn Văn B tại thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả khám xét không phát hiện và không thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành mở niêm phong, cân xác định số chất bột màu trắng thu giữ được của Mạn Văn Bằng trong phong bì ký hiệu B1 có khối lượng là 0,271g (Không phẩy hai bảy một gam). Sau khi cân, niêm phong toàn bộ số chất bột màu trắng vào phong bì ký hiệu M1 gửi giám định; phong bì, giấy gói, ống nhựa cũ niêm phong vào phong bì ký hiệu M2 bảo quản theo quy định. Ngày 22/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B chuyển hồ sơ vụ án cùng tang vật đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố B để điều tra theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định số 371/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine, có khối lượng là 0,271g (Không phẩy hai bảy một gam). Sau giám định, mẫu chất còn lại cùng phong bì, giấy gói cũ niêm phong trong phong bì T221 hoàn lại cơ quan trưng cầu.

Tại Cơ quan điều tra, Mạn Văn B khai nhận số ma túy bị thu giữ là của B, tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích khác. Về nguồn gốc ma túy, B khai: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 19/11/2024, Mạn Văn B đi bộ từ chỗ làm thuê (xây dựng công trình nhà dân) khu vực phía sau Trường Cao đẳng B1 thuộc thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn đến khu vực ngã ba phía trước cổng Trường Cao đẳng B1 thuộc tổ I, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Tại đây, B gặp một người phụ nữ lạ mặt, không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể, qua nói chuyện Bằng mua được của người phụ nữ này 01 (một) gói ma túy với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Mạn Văn B cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ đến khu vực phía sau Trường Cao đẳng B1 (thuộc thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn) để tìm nơi sử dụng ma túy, đang trên đường đi thì B bị tổ công tác Phòng CSĐTTP về ma tuý Công an tỉnh B kiểm tra, bắt quả tang đối với Mạn Văn B về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Mạn Văn B đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản Cáo trạng số 20/CT-VKSTPBK, ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Mạn Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine.....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tại phiên tòa:

*Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Mạn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Mạn Văn B từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 19/11/2024.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T 221; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2;

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

*Bị cáo Mạn Văn B thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố B và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Mạn Văn B thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở xác định:

Hồi 12 giờ 20 phút ngày 19/11/2024, tại khu vực phía sau Trường Cao đẳng B1 thuộc thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Mạn Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 0,271g (Không phẩy hai bảy một gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.

Mạn Văn B là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật tuy nhiên do nghiện chất ma túy nên đã cố ý tàng trữ trái phép 0,271g (Không phẩy hai bảy một gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương nên cần xử lý theo pháp luật hình sự.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo Mạn Văn B có nhân thân xấu: Ngày 19/4/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 23/5/2023 Mạn Văn Bằng chấp hành án xong, trở về địa phương sinh sống, đến ngày 19/11/2024 thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự

[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo trong một khoảng thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng do vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T221, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả vụ: Mạn V (1973), tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, chứa chất ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2, mặt trước phong bì có có chữ M2, mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) chữ Bằng, 01 (một) dòng chữ Mạn Văn Bằng; 01 (một) dòng chữ Trần Đức C; 01 (một) dòng chữ Trần Văn Đ; 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, bên trong chứa phong bì, giấy gói, ống nhựa cũ, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho M Văn Bằng vào ngày 19/11/2024 tại khu vực ngã ba trước cổng Trường Cao đẳng B1 thuộc tổ I, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, do bị cáo không cung cấp được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Mạn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo:

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Mạn Văn B 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 19/11/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    - Tịch thu tiêu hủy:

    • + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T221, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả vụ: Mạn V (1973), tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
    • + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2, mặt trước phong bì có có chữ M2, mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) chữ Bằng, 01 (một) dòng chữ Mạn Văn Bằng; 01 (một) dòng chữ Trần Đức C; 01 (một) dòng chữ Trần Văn Đ; 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an thành phố B và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Mạn Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15(Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND TPBK;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh BK;
  • - Phòng PC 10 - CA tỉnh BK;
  • - Chi cục THADS TPBK;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nguyệt Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HSST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KAN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 32/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KAN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mạn Văn B bị xử phạt 20 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger