|
Tòa án nhân dân Tỉnh Nam Định |
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HS-ST
Ngày: 11 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Minh Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Thọ
Ông Hoàng Hào
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Phượng– Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1994; Giới tính: Nữ; ĐKTT và nơi ở: Số D đường G, ấp M, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Minh T, sinh năm 1969 và bà Trần Thị M, sinh năm 1970; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Chồng: Lương Văn T1, sinh năm 1995; Có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị "Cấm đi khỏi nơi cư trú" và "Tạm hoãn xuất cảnh". Có mặt.
- Họ và tên: Tiêu Thanh S, sinh năm 1997; Giới tính: Nam; ĐKTT và nơi ở: Số C T, Tổ A, ấp X, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Công nhân Nhà máy S1; Con ông Tiêu Thanh L1, sinh năm 1975 và bà Mai Tuyết T2, sinh năm 1979; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ Đinh Thị Diễm K, sinh năm 1996; Có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị "Cấm đi khỏi nơi cư trú" và "Tạm hoãn xuất cảnh". Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Hành vi của Lê Thị Mỹ L: Khoảng cuối năm 2018, Lê Thị Mỹ L có nhu cầu xin việc tại trường mầm non nhưng không có Bằng tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm. L đã sử dụng tài khoản Facebook cá nhân, tên là “Linh Le” nhắn tin, liên hệ với tài khoản Facebook tên là “Nhận làm văn bằng giấy tờ” đặt mua 01 Bằng tốt nghiệp Cao đẳng giả chuyên ngành giáo dục mầm non của trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố H với giá 3.000.000 đồng. L cung cấp thông tin địa chỉ cá nhân và thống nhất hình thức giao nhận thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh thu tiền hộ COD. Khoảng 03 ngày sau, L nhận được bưu phẩm, mở ra kiểm tra bên trong có 01 Bằng tốt nghiệp Cao đẳng giả chuyên ngành giáo dục mầm non của trường Cao đẳng sư phạm trung ương thành phố H mang tên Lê Thị Mỹ L và đúng theo nội dung L yêu cầu; L thanh toán cho nhân viên giao hàng số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi mua được bằng giả, L sử dụng bằng giả đưa vào hồ sơ xin việc nộp tại trường Mầm non T11 và được nhận vào làm việc tại đây từ tháng 7/2019 đến tháng 4/2021. Sau đó, L nghỉ việc và rút hồ sơ xin việc trước đó đã nộp cho Nhà trường.
Tháng 02/2022, L sử dụng Bằng tốt nghiệp Cao đẳng giả chuyên ngành giáo dục mầm non của trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố H để nộp vào hồ sơ tham gia xét tuyển kỳ tuyển dụng viên chức ngành Giáo dục và đào tạo do UBND huyện C tổ chức. Tháng 3/2022, L được trường Mầm non thị trấn C liên hệ đến trường làm việc, giảng dạy theo dạng hợp đồng ngắn hạn. Đến khoảng tháng 4/2022, L nhận được kết quả thi đỗ viên chức giáo viên. Khi đó, trường Mầm non thị trấn C thông báo cho L biết Phòng Nội vụ huyện C yêu cầu bổ sung bản photo Bằng tốt nghiệp Cao đẳng, chứng chỉ ngoại ngữ, công nghệ thông tin, trình độ lý luận chính trị kèm theo giấy xác nhận của nơi cấp bằng, chứng chỉ để làm hồ sơ trình UBND huyện C bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp. Trường Mầm non thị trấn C ban hành công văn để xác minh Bằng tốt nghiệp Cao đẳng chuyên ngành giáo dục mầm non của L và đưa cho L để trực tiếp đi gửi. Vì Bằng tốt nghiệp Cao đẳng mầm non của L là giả nên L đã dùng mạng xã hội tài khoản Facebook cá nhân tìm thấy một tài khoản Facebook tên là “Làm bằng cấp, giấy tờ, bằng lái xe”. L chủ động nhắn tin, trao đổi đang có nhu cầu mua giấy xác nhận về việc cấp Bằng tốt nghiệp Cao đẳng mầm non thì tài khoản này báo giá tiền là 3.000.000 đồng. L đồng ý và gửi ảnh chụp Bằng Tốt nghiệp cao đẳng giả của trường Cao đẳng Sư phạm trung ương thành phố H, Công văn yêu cầu xác nhận của trường Mầm non huyện C để làm giấy xác nhận giả, thống nhất hình thức giao dịch là giấy xác nhận giả được gửi qua bưu điện, khi nào nhận hàng thì thanh toán tiền trực tiếp cho nhân viên giao hàng. Một tuần sau, L nhận được bưu phẩm bên trong có chứa giấy xác nhận giả của trường Cao đẳng Sư phạm trung ương thành phố H mang thông tin cá nhân của L và thanh toán 3.000.000 đồng cho nhân viên giao hàng. Sau khi có giấy xác nhận giả, L làm 02 bộ hồ sơ gồm bản photo bằng cấp, chứng chỉ kèm công văn phúc đáp giả nộp cho trường mầm non thị trấn C, nhà trường lưu 01 bộ hồ sơ, 01 bộ nộp kèm tờ trình cho Phòng Nội vụ huyện C để UBND huyện C ra quyết định bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp cho L. Đến tháng 9/2022, L được UBND huyện C bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp: Giáo viên mầm non hạng III, hệ số 2,10, được hưởng từ ngày 01/7/2022, công tác tại trường mầm non thị trấn C. Sau khi bị CQĐT phát giác về hành vi mua, sử dụng giấy tờ giả, L đã tự nguyện giao nộp cho
CQĐT bản gốc bằng tốt nghiệp cao đẳng giả, giấy xác nhận tốt nghiệp và làm đơn xin nghỉ việc tại trường Mầm non thị trấn C từ tháng 4/2023, đến tháng 5/2023 UBND huyện C đã ban hành Quyết định cho thôi việc đối với Lê Thị Mỹ L.
Xác minh tại trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố H xác định: Năm 2015, nhà trường không cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng cho Lê Thị Mỹ L; năm 2022, nhà trường không phúc đáp công văn số 99/CĐSPTW cho trường Mầm non thị trấn C.
Trưng cầu giám định hình dấu, chữ ký với các giấy tờ giả đã thu giữ. Tại bản Kết luận giám định số 1700/KL-KTHS ngày 14/10/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận: Bằng tốt nghiệp cao đẳng chuyên ngành mầm non của Lê Thị Mỹ L và Công văn số 99 ngày 20/4/2022 của trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố H đều là giấy tờ giả.
2. Hành vi của Tiêu Thanh S: Do có nhu cầu xin việc vào Nhà máy S1, biết được tiêu chuẩn bắt buộc phải có Bằng tốt nghiệp THPT nhưng bản thân không có Bằng tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) nên đầu tháng 5/2022, Tiêu Thanh S nhờ Trần Anh T3, sinh ngày 08/6/1998, trú tại: 111 Đường B, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh mua hộ Bằng tốt nghiệp THPT giả. Vì là chỗ bạn bè quen biết, T3 nhận lời, T3 liên hệ với một người bạn tên T4 (T3 không biết thông tin cụ thể) về việc cần mua bằng giả, T4 nhận lời và bảo có chỗ làm bằng tốt nghiệp giả với giá 2.000.000 đồng. T3 thông báo lại cho S nội dung trên, S đồng ý và gửi thông tin cá nhân của mình cho T3. T3 chuyển tiếp thông tin cá nhân của S cho T4 để làm bằng giả qua tài khoản Zalo. Khoảng 01 tuần sau, T3 nhận được bưu phẩm bên trong có Bằng tốt nghiệp THPT số hiệu B1760429 cấp ngày 21/10/2015, số vào sổ cấp bằng: 2015/54/007/7361 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh K mang tên Tiêu Thanh S kèm 05 bản sao chứng thực, T3 đã thanh toán cho nhân viên giao hàng 2.000.000 đồng. Sau đó, T3 báo S ra cổng Nhà máy S1 để nhận bằng giả. S nhận từ T3 bưu phẩm chứa bằng tốt nghiệp THPT giả kèm 05 bản sao chứng thực và đưa cho T3 2.000.000 đồng thanh toán chi phí mua bằng giả. Sau khi có được bằng giả, S không liên hệ, trao đổi gì với T3 việc sử dụng bằng giả vào việc gì. Đến khoảng giữa tháng 5/2022, S sử dụng 01 bản sao chứng thực Bằng tốt nghiệp THPT giả kèm theo Đơn xin việc và các giấy tờ khác để đưa vào hồ sơ xin việc, nộp tại Nhà máy S1. Khoảng 01 tuần sau, S được nhận vào làm thử việc tại bộ phận chế biến của Nhà máy. Ngày 26/7/2022 và ngày 26/7/2023, S được Công ty ký hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm. Đến ngày 26/7/2024, S được Công ty ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Hiện tại, S đang làm việc tại bộ phận chế biến của Nhà máy với nhiệm vụ phối, trộn nguyên liệu. Khi bị CQĐT phát giác về hành vi mua, sử dụng giấy tờ giả, S đã tự nguyện giao nộp cho CQĐT toàn bộ giấy tờ giả đã mua.
* Xác minh tại Phòng tư pháp UBND Quận 3 xác định: Phòng tư pháp Quận 3 không chứng thực Bằng tốt nghiệp THPT mang tên Tiêu Thanh S
Xác minh tại Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh K xác định: Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh K không cấp bằng tốt nghiệp THPT cho Tiêu Thanh SangLàm việc với Công ty cổ phần S2 chi nhánh C xác định: Vị trí làm việc của Tiêu Thanh S, bắt buộc phải tốt nghiệp trình độ THPT trở lên.
* Tại bản Kết luận giám định số 1783/KL-KTHS ngày 13/11/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận: Hình dấu tròn màu đỏ trên 05 bản sao bằng giả thu của Tiêu Thanh S so với mẫu dấu thu ở Phòng tư pháp UBND Quận 3 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
* Quá trình điều tra thu giữ:
- - 01 Bằng tốt nghiệp THPT số hiệu B1760429 cấp ngày 21/10/2015, số vào sổ cấp bằng: 2015/54/007/7361 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh K mang tên Tiêu Thanh S kèm 05 bản sao chứng thực.
- - 01 Bằng tốt nghiệp cao đẳng chuyên ngành giáo dục mầm non của trường Cao đẳng S mang tên Lê Thị Mỹ L kèm 01 bản photo.
- - Công văn số 99 ngày 20/4/2022 của trường Cao đẳng S.
Những vật chứng trên chuyển cùng hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Đối với các đối tượng liên quan khác:
Đối với Trần Anh T3: Trần Anh T3 có hành vi giúp đỡ Tiêu Thanh S mua Bằng tốt nghiệp THPT giả; nhưng T3 không biết mục đích sử dụng của S cũng như không hưởng lợi gì. Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, CQĐT không xem xét xử lý hình sự đối với Trần Anh T3 mà xử lý bằng biện pháp khác.
Đối với người đàn ông tên T4: Trần Anh T3 khai nhận đã nhờ T4 mua giúp bằng tốt nghiệp THPT giả cho Tiêu Thanh S. CQĐT đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không xác định được thông tin con người cụ thể của đối tượng T4. Do vậy, CQĐT kết thúc việc điều tra, xác minh đối với T4.
* Bản cáo trạng số 115/CTr-VKSNĐ-P1 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đã truy tố: Lê Thị Mỹ L về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Truy tố Tiêu Thanh S về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên toà:
- Bị cáo Lê Thị Mỹ L và Tiêu Thanh S khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản cáo trạng và xác nhận bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố là đúng, không oan. Nói lời nói sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, xin được hưởng treo để được ở nhà nuôi dạy các con nhỏ vì các bị cáo là lao động chính trong gia đình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề nghị: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS; xử phạt Lê Thị Mỹ L từ 24 tháng đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách gấp đôi về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;
Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS; xử phạt Tiêu Thanh S từ 9 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách gấp đôi về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; Về vật chứng: Là tài liệu thu giữ đã chuyển theo hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận:
- - Tháng 02/2022, Lê Thị Mỹ L sử dụng Bằng tốt nghiệp Cao đẳng giả chuyên ngành giáo dục mầm non của trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố H để nộp vào hồ sơ tham gia xét tuyển kỳ tuyển dụng viên chức ngành Giáo dục và đào tạo do UBND huyện C tổ chức. Tháng 4/2022, Lê Thị Mỹ L mua 01 Giấy xác nhận cấp Bằng tốt nghiệp giả của trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố H làm hồ sơ nộp cho trường Mầm non thị trấn C và Phòng Nội vụ huyện C, để UBND huyện C bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non hạng III đối với L.
Hành vi nêu trên của Lê Thị Mỹ L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
- - Tháng 5/2022, Tiêu Thanh S nhờ Trần Anh T3 mua 01 bằng tốt nghiệp THPT giả kèm theo 05 bản sao chứng thực. Tiêu Thanh S nộp bản chứng thực bằng tốt nghiệp giả vào hồ sơ xin việc và được tuyển dụng vào làm nhân viên bộ phận chế biến của nhà máy S1.
Hành vi nêu trên của Tiêu Thanh S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo qui định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là có căn cứ pháp lý.
Hành vi nêu trên của Lê Thị Mỹ L, Tiêu Thanh S đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tự nhận thức và biết việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật nhưng do động cơ cá nhân mà các bị cáo vẫn sử dụng tài liệu, giấy tờ giả đó để lừa dối cơ quan, tổ chức. Do vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm theo qui định của pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lê Thị Mỹ L, Tiêu Thanh S không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo qui định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Lê Thị Mỹ L, Tiêu Thanh S đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Tiêu Thanh S phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Thị Mỹ L có đơn được chính quyền địa phương xác nhận là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành nghiêm các chủ trương của Đảng chính sách pháp luật của Nhà nước; tham gia tích cực các hoạt động thiện nguyện; hiệu trưởng trường Mầm non thị trấn C xác nhận trong thời gian công tác bị cáo luôn chấp hành quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao được. Bị cáo Tiêu Thanh S có đơn được chính quyền địa phương xác nhận là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do vậy, Lê Thị Mỹ L và Tiêu Thanh S còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Xét thấy, bị cáo Lê Thị Mỹ L, Tiêu Thanh S đều có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, các bị các tỏ rõ thái độ đã thật sự ăn ăn hối hận và khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của bản thân. Trên cơ sở xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; xét thấy, không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương và ấn định thời gian thử thách gấp đôi như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Như vậy cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo trong vụ án có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; buộc các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo: Lê Thị Mỹ L, Tiêu Thanh S phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt Lê Thị Mỹ L 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt Tiêu Thanh S 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Thị Mỹ L cho UBND xã T; giao bị cáo Tiêu Thanh S cho UBND xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị Mỹ L, Tiêu Thanh S mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng
- Án xử công khai sơ thẩm, báo bị cáo Lê Thị Mỹ L, Tiêu Thanh S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Minh Hồng |
7
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2025/HS-ST
Ngày: 21 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Minh H
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thu H1
Ông Hoàng H2
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim P và bà Nguyễn Như T5 – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị H3 – Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Đặng Minh T6, sinh năm 1998; Giới tính: Nam; ĐKTT, nơi ở: Tổ dân phố A, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định; Hiện đang thuê ở trọ tại: Số C, ngách A, ngõ B T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đặng Đình H4, sinh năm 1966 và bà Đinh Thị Q, sinh năm 1964; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 2; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 18/12/2024. Có mặt.
- Họ tên: Đặng Huy H5, sinh năm 2002; Giới tính: Nam; ĐKTT, nơi ở: Tổ dân phố B, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định; Hiện đang thuê ở trọ tại: Số C, ngách A, ngõ B T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; bố: Không xác định và mẹ Đặng Thị T7 sinh năm 1966; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 18/12/2024. Có mặt.
- Họ và tên: Đặng Đình M1, sinh năm 2001; Giới tính: Nam; ĐKTT: Tổ dân phố B, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định; Hiện đang thuê ở trọ tại: Số C, ngách A, ngõ B T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đặng Đình K1, sinh năm 1968 và bà Lê Thị T8, sinh năm 1973; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ hai; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 18/12/2024. Có mặt.
- Họ và tên: Đặng Văn H6, sinh năm 2004; Giới tính: Nam; ĐKTT: Tổ dân phố B, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định; Hiện đang thuê ở trọ tại: Số C, ngách A, ngõ B T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đặng Đình H7 (đã chết) và bà Đặng Thị H8, sinh năm 1972; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 18/12/2024. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ tháng 01/2024 đến tháng 07/2024, Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1, Đặng Văn H6 thuê trọ ở cùng nhà: Số C, ngách A, ngõ B T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội để “Bào game” kiếm tiền từ việc hưởng khuyến mãi của các trang Web trực tuyến dành cho các tài khoản game mới tạo lập và nạp tiền lần đầu như các trang game New889.love,78978999.vip....
Để mua thông tin tài khoản ngân hàng, Đặng Minh T6 sử dụng tài khoản Telegram có tên “Tiểu Thúy” đăng ký bằng số điện thoại 0961.208.xxx; Đặng Huy H5 sử dụng tài khoản Telegram “Chú Bé Đần” đăng ký bằng số điện thoại 0828.944.xxx; Đặng Đình M1 sử dụng tài khoản Telegram “Ngày Mai” đăng ký bằng số điện thoại 0372.532.xxx; Đặng Văn H6 sử dụng tài khoản Telegram “Đennnn” đăng ký bằng số điện thoại 0966.581.xxx để liên hệ với các đối tượng trong các nhóm kín của ứng dụng T9 đặt mua thông tin tài khoản ngân hàng của nhiều tài khoản Telegram khác nhau như tài khoản có tên “Mã Long”, “Kim Oanh”, “T H”, “Tom so bad”. Mỗi thông tin tài khoản ngân hàng, T6, Huy H5, M1, Văn H6 mua với giá trung bình khoảng 100.000 đồng/01 tài khoản tùy theo từng thời điểm. Các đối tượng thực hiện hành vi mua bán riêng biệt, ở các tài khoản Telegram khác nhau, không hỗ trợ giúp sức nhau. Tuy nhiên, quá trình thực hiện, các đối tượng có trao đổi, cung cấp cho nhau thông tin các hội nhóm kín, thông tin của các đối tượng bán tài khoản ngân hàng, riêng tài khoản T9 “T H” đã bán thông tin tài khoản về ngân hàng cho cả Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1 và Đặng Văn H6 tổng số 31 tài khoản thông tin về ngân hàng.
Sau khi có các tài khoản ngân hàng, các đối tượng sử dụng liên kết với các tài khoản mới lập trên các cổng game (đánh bạc) như: New889.love, 78978999.vip...Các trang game thường có chương trình tặng 100% số tiền nạp lần đầu cho các tài khoản với mức nạp là 200.000 đồng. Sau khi nạp tiền vào tài khoản và hưởng khuyến mại thì số tiền trong tài khoản game là 400.000 đồng, tuy nhiên để được rút tiền về thì phải đáp ứng điều kiện tham gia cá cược bằng các trò chơi trên cổng game đến khi mức tiền cược ít nhất đủ 400.000 đồng. Các đối tượng dùng tài khoản này để tham gia các trò chơi như: “Nổ hũ”, “Bắn cá”...và cài chế độ chơi tự động với mức cược mỗi lần là 2.000 đồng/1 lượt cho đến khi tiền cược đủ 400.000 đồng thì mới đủ điều kiện rút tiền về tài khoản ngân hàng liên kết, sau đó các đối tượng chuyển số tiền này về tài khoản ngân hàng cá nhân để hưởng lợi từ việc tham gia chơi trong các cổng game có tài khoản thắng tiền, có tài khoản thua tiền. Đặng Minh T6 sử dụng tài khoản ngân hàng B, Đặng Văn H6 sử dụng tài khoản ngân hàng M2 số 812200422112005, Đặng Huy H5 sử dụng tài khoản ngân hàng M2 số [...], Đặng Đình M1 sử dụng tài khoản ngân hàng M2 số 82888867896666 và T12 số 0372532811. Đến nay các đối tượng không nhớ những tài khoản ở các trang game đã tạo lập và cụ thể việc thắng, thua; do vậy không có dữ liệu để xử lý hành vi đánh bạc này.
* Kết quả điều tra xác định: Từ tháng 01/2024 đến tháng 07/2024, các đối tượng đã thực hiện hành vi mua, tàng trữ trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng để bào game, cụ thể như sau:
- - Đối với hành vi của Đặng Minh T6: Đặng Minh T6 đã mua 176 thông tin tài khoản ngân hàng khác nhau của những người bán trên ứng dụng Telegram, tàng trữ để sử dụng vào việc “Bào game”. Sau khi sử dụng, T6 lưu tại file G sheet có tên “D sach tai khoan ngan hang” trên tài khoản Gmail “minhtri170698@gmail.com” đối với 98 tài khoản; 78 tài khoản còn lại thì lưu tại tin nhắn Telegram trong máy tính cá nhân của mình. Cơ quan điều tra đã xác minh thông tin đối với các tài khoản ngân hàng trên, kết quả xác định thông tin của 165 tài khoản ngân hàng còn 11 tài khoản ngân hàng không xác định được thông tin cụ thể. Cơ quan CSĐT đã thu được file G sheet và tin nhắn Telegram trên máy tính của T6 lưu giữ thông tin của 176 tài khoản ngân hàng này.
- - Đối với hành vi của Đặng Huy H5: Đặng Huy H5 đã mua 144 thông tin tài khoản ngân hàng khác nhau của những người bán trên ứng dụng Telegram, tàng trữ để sử dụng vào việc “Bào game”. Sau khi sử dụng, Huy H5 lưu tại file Google sheet “Untitled spreadsheet" trên tài khoản Gmail “nycham44444@gmail.com" trong máy tính cá nhân. Cơ quan điều tra đã xác minh thông tin đối với các tài khoản ngân hàng trên, kết quả xác định thông tin của 125 tài khoản ngân hàng còn 19 tài khoản ngân hàng không xác định được thông tin cụ thể. Cơ quan CSĐT đã thu được file G sheet trên máy tính của Huy H5 lưu giữ thông tin của 144 tài khoản ngân hàng này.
- - Đối với hành vi của Đặng Đình M1: Đặng Đình M1 đã mua 103 thông tin tài khoản ngân hàng khác nhau của những người bán trên ứng dụng Telegram, tàng trữ để sử dụng vào việc “Bào game”. Sau khi sử dụng, M1 đã lưu tại file Google sheet “Bảng tính chưa có tiêu đề” trên tài khoản Gmail "khanhvantran@gmail.com" trong máy tính cá nhân. Cơ quan điều tra đã xác minh thông tin đối với các tài khoản ngân hàng trên, kết quả xác định thông tin của 101 tài khoản ngân hàng còn 02 tài khoản ngân hàng không xác định được thông tin cụ thể. Cơ quan CSĐT đã thu được file G sheet trên máy tính của M1 lưu giữ thông tin của 103 tài khoản ngân hàng này.
- - Đối với hành vi của Đặng Văn H6: Đặng Văn H6 đã mua 46 thông tin tài khoản ngân hàng khác nhau, tàng trữ để sử dụng vào việc “Bào game”. Sau khi sử dụng Văn Hoàng lưu tại file G sheet có tên “Tai khoan ngan hang” trên tài khoản Gmail “khanhvantran@gmail.com” trong máy tính cá nhân. Cơ quan điều tra đã xác minh thông tin đối với các tài khoản ngân hàng trên, kết quả xác định được thông tin của 42 tài khoản ngân hàng, 04 tài khoản ngân hàng không xác định được thông tin cụ thể. Cơ quan CSĐT đã thu được file G sheet trên máy tính của Văn H6 lưu giữ thông tin của 46 tài khoản ngân hàng này.
* Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 Laptop hiệu AUS Soric Master màu xám (của T6); 01 Laptop hiệu HP 340SG7 màu xám (của Huy H5); 01 Laptop hiệu ASUS màu đen (của M1); 01 máy tính PC vỉ cây màu đen (của Văn H6). Tiến hành cho các đối tượng tự sử dụng máy tính của mình để tải dữ liệu tin nhắn giữa tài khoản Telegram của mình với các tài khoản Telegram của các đối tượng liên hệ để mua tài khoản ngân hàng và tải dữ liệu trên thành file Excel trong 04 máy tính cá nhân này; kết quả đã thể hiện số lượng thông tin về tài khoản ngân hàng được các đối tượng lưu trong các file Google sheet (T6 lưu trữ 176 thông tin về tài khoản ngân hàng, Huy H5 lưu trữ 144 thông tin về tài khoản ngân hàng, M1 lưu trữ 103 thông tin về tài khoản ngân hàng, Văn H6 lưu trữ 46 thông tin về tài khoản ngân hàng). Các đối tượng đều xác nhận đây là các thông tin về tài khoản ngân hàng được các đối tượng mua, tàng trữ để sử dụng “Bào game”. Cơ quan điều tra đã trích xuất dữ liệu điện tử sao in ra 04 đĩa DVD và in ra các tờ giấy A4 có chữ ký xác nhận của 04 đối tượng trên.
* Tại Cơ quan điều tra, Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1 và Đặng Văn H6 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập.
* Đối với các đối tượng sử dụng tài khoản T9 bán thông tin về tài khoản ngân hàng cho Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1 và Đặng Văn H6 hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT đã tiến hành tách phần tài liệu để xác minh, điều tra xử lý sau.
* Đối với hành vi tham gia đánh bạc bằng các trò chơi trên cổng game của Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1 và Đặng Văn H6 đến nay các bị cáo không nhớ thông tin các tài khoản game đã sử dụng và cụ thể việc thắng, thua trong quá trình tham gia đặt cược do đó không có căn cứ để xử lý các bị cáo về hành vi này.
* Bản cáo trạng số 14/CT-VKSNĐ-P2 ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố:
- - Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1 về tội “...Tàng trữ,...mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 291 Bộ luật Hình sự.
- - Đặng Văn H6 về tội “...Tàng trữ,...mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” quy định tại khoản 1 Điều 291 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên toà:
- - Các bị cáo Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1, Đặng Văn H6 đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố là đúng, không bị oan sai. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xin xử cho các bị cáo một mức hình phạt thấp nhất.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 291; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo
- + Đặng Minh T6 từ 18 tháng đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
- + Đặng Huy H5 từ từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
- + Đặng Đình M1 từ từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
Áp dụng: khoản 1 Điều 291; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Văn H6 từ 80 triệu đến 90 triệu đồng. Miễn phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay; Bản tự khai; Biên bản ghi lời khai; Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 01/2024 đến tháng 7/2024, Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1 và Đặng Văn H6 thuê trọ ở cùng nhà: Số C, ngách A, ngõ B T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội để “Bào game” kiếm tiền từ việc hưởng khuyến mãi của các trang Web trực tuyến dành cho các tài khoản game mới tạo lập và nạp tiền lần đầu như các trang game New889.love,78978999.vip ... Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1 và Đặng Văn H6 đã thực hiện hành vi mua, tàng trữ các thông tin về tài khoản ngân hàng trên các hội nhóm kín Telegram để bào game. Cụ thể:
- - Đặng Minh T6 đã mua, tàng trữ sử dụng 165 thông tin về tài khoản ngân hàng để bào game.
- - Đặng Huy H5 đã mua, tàng trữ sử dụng 125 thông tin về tài khoản ngân hàng để bào game.
- - Đặng Đình M1 đã mua, tàng trữ sử dụng 101 thông tin về tài khoản ngân hàng để bào game.
Hành vi nêu trên của Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 291 Bộ luật Hình sự.
- - Đặng Văn H6 đã mua, tàng trữ sử dụng 42 thông tin về tài khoản ngân hàng để bào game.
Hành vi nêu trên của Đặng Văn H6 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” theo quy định tại khoản 1 Điều 291 của Bộ luật Hình sự.
Quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là có căn cứ pháp lý.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tài chính ngân hàng; xâm phạm đến quyền bảo vệ thông tin riêng về tài khoản ngân hàng của các cá nhân. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Vì vậy, các bị cáo Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1 và Đặng Văn H6 đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội riêng biệt, ở các tài khoản telegram khác nhau. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo; căn cứ số lượng thông tin tài khoản ngân hàng mà các bị cáo thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép để bào game; Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1, Đặng Văn H6 đều có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Xét thấy, cần ấn định cho các bị cáo mức hình phạt trong khung hình phạt bị truy tố nhưng không cần cách ly các bị cáo Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1 ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo này được cải tạo tại địa phương, chịu sự giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú và ấn định thời gian thử thách gấp đôi. Đối với bị cáo Đặng Văn H6, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo. Như vậy mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhưng cũng đáp ứng công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải với hành vi sai phạm của bản thân; tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên toà, xét thấy số vật chứng thu giữ của các bị cáo, gồm:
- - 06 điện thoại di động: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro màu đen xám; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy Note 8; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng thu giữ của các bị cáo.
- - 04 máy tính Laptop gồm: 01 máy tính Laptop ASUS màu bạc; 01 máy tính Laptop HP màu bạc; 01 máy tính Laptop ASUS màu đen; 01 cây máy tính PC in nhãn hiệu VSP kèm 01 màn hình máy tính nhãn hiệu AOC màu đen.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều xác nhận đã sử dụng điện thoại, máy tính, laptop để thực hiện việc “Bào game”. Xét thấy, số vật chứng thu giữ trong vụ án đều có liên quan đến tội phạm, đều dùng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Các bị cáo Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1, Đặng Văn H6 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1, Đặng Văn H6 phạm tội “Tàng trữ, mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”
- Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 291; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- - Xử phạt Đặng Minh T6 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt Đặng Huy H5 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt Đặng Đình M1 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1 cho UBND phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 291; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự;
Phạt tiền bị cáo Đặng Văn H6 80.000.000 đồng (T10 mươi triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước toàn bộ số vật chứng thu giữ trong vụ án
(Chi tiết cụ thể theo biên bản giao, nhận tài sản thi hành án số 25/49 ngày 18-02-2025 giữa phòng PC02 - Công an tỉnh N với Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định).
- Về án phí: Các bị cáo Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1, Đặng Văn H6 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo bị cáo Đặng Minh T6, Đặng Huy H5, Đặng Đình M1, Đặng Văn H6 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Minh Hồng |
16
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. 2. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. - Xử phạt Lê Thị Mỹ L 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. 3. Áp dụng: khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. - Xử phạt Tiêu Thanh S 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Thị Mỹ L cho UBND xã T; giao bị cáo Tiêu Thanh S cho UBND xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
