TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/DS-PT Ngày 05-3-2025 Về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu tuyên bố hợp đồng CNQSDĐ vô hiệu” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ửng.
Các Thẩm phán: Ông Ông Nguyễn Hồng Chương và ông Dương Hà Ngân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Nam, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Dương Phúc Trường – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 147/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”, do Bản án dân sự sơ thẩm số: 51/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 88/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 109/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09b/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Hữu T, sinh năm 1975; địa chỉ: TDP C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông-Có mặt;
- Bị đơn: Ông Lê Xuân N, sinh năm 1968 và bà Lê Thị Ư, sinh năm 1971; địa chỉ: TDP A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông- Đều có mặt;
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phan Văn C - Luật sư của V thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: TDP B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Thu H; địa chỉ: TDP C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt;
2. Ông Lê Minh Đ; địa chỉ: TDP A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông- Có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28-5-2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 17-7-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Hữu T trình bày: Giữa gia đình ông T, bà H và gia đình ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư có mối quan hệ quen biết thân thiết. Ngày 07-5- 2021, ông N và bà Ư vay của vợ chồng ông số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), mục đích vay để đáo hạn ngân hàng; thời hạn vay là chậm nhất 03 ngày kể từ ngày vay tiền, hai bên không thoả thuận về lãi suất và có làm hợp đồng thoả thuận vay tiền đáo hạn, có chữ ký, chữ viết của bên vay ông Lê Xuân N, bà Lê Thị Ư và bên cho vay ông Trần Hữu T. Ông T đã giao đủ số tiền cho ông N và bà Ư. Tuy nhiên, đến hạn trả nợ thì ông N và bà Ư không trả, vợ chồng ông đã nhiều lần xuống trực tiếp nhà ông N và bà Ư để yêu cầu trả nợ nhưng ông N, bà Ư không trả và cố tình trốn tránh.
Đến ngày 17-3- 2022, vợ chồng ông đến nhà để yêu cầu trả nợ thì ông N và bà Ư trình bày không có tiền trả nên sẽ cắt một phần đất do ông N và bà Ư đang sở hữu để chuyển nhượng cho ông, bà. Hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 17-3-2022, bên chuyển nhượng Lê Xuân N, Lê Thị Ư, bên nhận chuyển nhượng bà Nguyễn Thị Thu H; theo thoả thuận bên A (ông N, bà Ư) đồng ý bán và bên B (Nguyễn Thị Thu H) đồng ý mua 01 phần thửa đất số 446, tờ bản đồ số 35; địa chỉ: TDP H, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; diện tích khoảng 600m², lô đất có tứ cận: Phía đông giáp ông Lê Thành T1, phía Tây giáp đất ông Lê Xuân N, phía nam giáp quốc lộ 14 cũ, phía Bắc giáp đất ông Lê Xuân N; giá chuyển nhượng đối với diện tích nêu tại “Điều 1” là 220.000.000đ/m ngang; phương thức thanh toán: Bên A đã nhận 01 tỷ đồng từ bên B bằng tiền mặt ngay sau khi ký kết hợp đồng này như là tiền đặt cọc để mua lô đất này; bên A có trách nhiệm thực hiện việc tách thửa đất theo Điều 1 của hợp đồng chậm nhất ngày 30-6-2022. Bên B có nghĩa vụ thanh toán cho bên A theo Điều 2 của Hợp đồng. Thực tế, không có việc giao nhận 01 tỷ đồng theo hợp đồng chuyển nhượng mà 02 bên thống nhất số tiền trên sẽ cấn trừ từ khoản vay 01 tỷ đồng của ông N và bà Ư. Đến thời hạn ngày 30-6-2022, ông N, bà Ư không thực hiện việc tách thửa như cam kết. Mặc dù nhiều lần gặp để yêu cầu trả nợ nhưng ông N, bà Ư không hợp tác nên ông khởi kiện yêu cầu ông N và bà Ư trả cho vợ chồng ông số tiền vay 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) và tiền lãi đối với số tiền chậm trả trên số ngày chậm trả tạm tính từ ngày 10-5-2021 đến 28-5-2024 là 1113 ngày = 1.000.000.000 đồng x 1113 ngày x (10%/365) = 304.931.507 đồng (ba trăm lẻ bốn triệu chín trăm ba mươi mốt ngàn năm trăm lẻ bảy đồng). Tổng số tiền yêu cầu: 1.304.931.507 đồng (Một tỷ ba trăm lẻ bốn triệu chín trăm ba mươi mốt ngàn năm trăm lẻ bảy đồng). Số tiền lãi chậm trả sẽ được tính lại cho đến ngày vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm; Yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 17-3-2022 giữa ông Lê Xuân N, bà Lê Thị Ư với bà Nguyễn Thị Thu H vô hiệu.
Bị đơn ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư trình bày: Ông, bà không có bất cứ mối quan hệ nào với ông Trần Hữu T, từ trước đến nay ông bà chưa vay tiền của bất cứ Ngân hàng nào nên không có việc vay tiền của ông T, bà H. Tuy nhiên, vào tháng 6-2021 con trai ông N và bà Ư là anh Lê Minh Đ, sinh năm 1990 nói với ông bà là ông Đ có vay của ông T và bà H 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng), sau đó ông T và bà H có lên nhà xác nhận là ông Đ có vay tiền của ông T và bà H 01 tỷ đồng, khi đó vợ chồng ông T có đưa cho vợ chồng ông bà 01 tờ giấy và nói “Vợ chồng em lên xin xác nhận là con anh chị có vay em 01 tỷ đồng” thì vợ chồng ông bà đồng ý ký xác nhận và trả dần cho ông T, bà H, giấy này ông T và bà H giữ, ông bà không giữ, chứ không phải là giấy vay tiền mà nguyên đơn cung cấp. Ông bà cho rằng hợp đồng thỏa thuận vay tiền đáo hạn ngày 07-5-2021 là hoàn toàn giả mạo, không đúng sự thật vì ông bà không vay tiền của ông T, bà H nhưng ông bà xác nhận là đúng chữ ký và chữ viết Lê Xuân N, Lê Thị Ư trong “Hợp đồng thoả thuận vay tiền đáo hạn” đề ngày 07-5-2021 mà nguyên đơn cung cấp đúng là chữ ký, chữ viết của ông bà. Tuy nhiên ông bà chưa bao giờ thấy hợp đồng này và không biết lý do vì sao ông T có được chữ ký của vợ chồng ông theo Hợp đồng thoả thuận đáo hạn ngân hàng.
Ngày 17-3-2022, vợ chồng ông bà có lập với bà H (vợ ông T) 01 Hợp đồng CNQSDĐ, lý do có hợp đồng này vì vợ chồng ông T, bà H muốn cấn trừ số tiền ông Đ đang nợ bà H 01 tỷ đồng sang hợp đồng chuyển nhượng, trong hợp đồng này bên chuyển nhượng là ông Lê Xuân N, bà Lê Thị Ư; bên nhận chuyển nhượng là Nguyễn Thị Thu H, ông bà đồng ý bán cho ông T, bà H 01 phần thửa đất theo GNCQSD đất số CR 123265 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 19-6-2019, tại thửa đất số 446, tờ bản đồ 35, diện tích khoảng 600m² (Mặt tiền tiếp giáp đường quốc lộ 14 cũ là 14m, chiều ngang cuối đất là 14m, chiều dài theo GCNQSD đất) toạ lạc tại tổ dân phố H, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; giá chuyển nhượng là 220.000.000đ/m ngang. Phương thức thanh toán: Bên A đã nhận 01 tỷ đồng từ bên B bằng tiền mặt ngay sau khi ký kợp đồng này. Bên A có trách nhiệm tách thửa đất cho bên B chậm nhất ngày 30-6-2022. Về mặt thực tế thì vợ chồng ông bà đã đi làm thủ tục tách thửa tuy nhiên bà H không đủ tiền để lấy đất. Tháng 10-2023, vợ chồng ông bà đã thế chấp thửa đất này tại Ngân hàng N1 - Chi nhánh G để vay số tiền 01 tỷ đồng, thời hạn vay là 05 năm kể từ ngày vay. Thực tế trong Hợp đồng CNQSDĐ ghi giá Bên A đã nhận 01 tỷ đồng từ bên B bằng tiền mặt ngay sau khi ký kết hợp đồng này như là tiền đặt cọc để mua lô đất này thì hoàn toàn không có việc ông T, bà H trả 01 tỷ đồng tiền mặt cho vợ chồng ông mà 02 bên cam kết là chuyển từ số nợ ông Đ đang nợ ông T, bà H sang cấn trừ tiền đặt cọc đất.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì 01 tỷ đồng này là con trai ông bà là ông Đ vay chứ ông bà không vay nên ông bà chỉ hỗ trợ cho ông Đ trả nợ, còn ông bà không nợ thì ông bà không trả; về việc nguyên đơn yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17-3-2022 là không cần thiết bởi vì chính nó đã vô hiệu ngay sau khi các bên ký kết. Vô hiệu vì ông bà có thiện chí bán đất để trả nợ thay ông Đ. Mặc dù không có việc ông T, bà H giao tiền cho ông bà nhưng hợp đồng về phương thức thanh toán đã ghi bên A (tức bên ông, bà) đã nhận 01 tỷ đồng từ bên B bằng tiền mặt ngay sau khi ký kết Hợp đồng này như là tiền đặt cọc để mua lô đất này. Số tiền 01 tỷ này thực chất là không có việc giao nhận. Như vậy, 02 bên đã ký hợp đồng nhưng cả hai bên chưa thực hiện bất cứ hành vi nào, đất vợ chồng ông chưa giao, tiền vợ chồng ông chưa nhận nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung về việc tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Minh Đ (con trai của bị đơn ông N, bà Ư) trình bày: Vào tháng 4 và tháng 5 năm 2021, ông có đến nhà nguyên đơn vay 02 lần với số tiền 01 tỷ đồng, cả 02 lần vay tiền ông ký vào giấy mà ông T đã ghi sẵn, giấy vay chỉ lập 01 bản và sau khi ký xong ông T giữ. Sau khi vay tiền ông xảy ra sự cố không có tiền để tra cho nguyên đơn theo cam kết, vì bế tắc nên ông đã uống thuộc diệt cỏ, mọi người phát hiện và đưa đến Bệnh viện cấp cứu. Khi biết tôi uống thuốc tự tử thì vợ chồng nguyên đơn lên nhà bố mẹ ông là ông N, bà Ư thông báo việc ông nợ số tiền 01 tỷ đồng và yêu cầu bố mẹ ông xác nhận số tiền tôi vay để lỡ ông chết thì bố mẹ ông phải trả. Sau khi ông tỉnh lại thì ông có nghe bố mẹ nói lại là ông T, bà H đến nhà, ông có nói với bố mẹ là ông vay của ông T, bà H 01 tỷ đồng. Sau đó ông T, bà H có đến nhà đề nghị bố mẹ ông ký vào giấy xác nhận nợ đã ghi sẵn. Sau đó, ông T, bà H đến nhà bố mẹ ông đòi tiền thì bố mẹ nói không có nhưng có đất đang chờ bán thì ông T, bà H đồng ý lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bố mẹ ông. Nội dung được soạn sẵn và nội dung hợp đồng ghi ông T, bà H đã chuyển số tiền 01 tỷ đồng ông vay sang thành tiền đặt cọc. Sau khi ký hợp đồng ông T không mua nữa vì không có tiền. Ông biết từ trước đến nay bố mẹ ông chưa từng vay ở ngân hàng nào nên ông không hiểu vì sao, bằng cách nào ông T, bà H có được chữ ký của ông N, bà Ư trong hợp đồng thoả thuận vay tiền đáo hạn đề ngày 07-5-2021. Ông khẳng định số tiền 01 tỷ đồng là ông vay của ông T, bà H chứ bố mẹ ông không vay; số tiền 01 tỷ đồng ghi trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực chất là chuyển từ số tiền mà ông nợ cấn sang tiền đặt cọc đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H trình bày: Bà thống nhất lời khai của ông T, số tiền vay này là của vợ chồng ông bà cho bị đơn vay nên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Quá trình giải quyết vụ án ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư không có yêu cầu phản tố. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.
Tại Bản án số 51/2024/DS-ST ngày 27-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã quyết định: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 124, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hữu T đối với ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư.
- Buộc ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Hữu T và bà Nguyễn Thị Thu H tổng số tiền 1.338.888.000đ (một tỷ ba trăm ba mươi tám triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng), trong đó: Nợ gốc là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng); nợ lãi là 338.888.000đ (Ba trăm ba mươi tám triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành các khoản tiền trên, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
- Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 17-3-2022 giữa ông Lê Xuân N, bà Lê Thị Ư với bà Nguyễn Thị Thu H vô hiệu.
- Buộc ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Hữu T và bà Nguyễn Thị Thu H tổng số tiền 1.338.888.000đ (một tỷ ba trăm ba mươi tám triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng), trong đó: Nợ gốc là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng); nợ lãi là 338.888.000đ (Ba trăm ba mươi tám triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án, án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 11-10-2024, bị đơn ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư kháng cáo bản án sơ thẩm và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết hủy bản án sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa theo hướng chuyển hồ sơ sang Cơ quan cảnh sát điều tra để điều tra làm rõ hành vi gian dối xảo trá của ông Trần Hữu T và bà Nguyễn Thị Thu H để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán tham gia, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 51/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về nội dung giải quyết vụ án và xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư:
[2.1]. Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bên đương sự thể hiện: Ngày 07-5-2021 giữa ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư với ông Trần Hữu T xác lập “Hợp đồng thỏa thuận vay tiền đáo hạn”, theo nội dung hợp đồng ông T cho vợ chồng ông N, bà Ư vay số 1.000.000.000 đồng, thời hạn trả nợ là 3 ngày, kể từ ngày vay. Qúa trình giải quyết vụ án ông N, bà Ư thừa nhận chữ ký trong hợp đồng vay nhưng cho rằng số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng là xác nhận trả nợ thay khoản nợ của anh Lê Minh Đ (con của ông N, bà Ư) vay ông Trần Hữu T trước đây, nội dung này ông T không thừa nhận và cam kết cho rằng ông Đ không nợ khoản vay nào với ông T. Như vậy, có căn cứ xác định ông N, bà Ư nợ ông T 1.000.000.000 (một tỷ) đồng, anh Đ không nợ gì với ông T theo xác nhận của ông T tại phiên tòa.
[2.1.1]. Do không có tiền trả 1.000.000.000 (một tỷ) đồng cho ông T theo cam kết nên ngày 17-3-2022 ông N và bà Ư ký kết “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” cho bà Nguyễn Thị Thu H (là vợ của ông T). Theo nội dung hợp đồng ông N, bà Ư chuyển nhượng cho bà H một phần thửa đất số 446, tờ bản đồ 35, diện tích khoảng 600m² theo GNCQSD đất số CR 123265 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 19-6-2019, có diện tích cạnh giáp đường quốc lộ 14 cũ dài 14m, chiều dài đến hết thửa đất theo GCNQSD đất đã cấp toạ lạc tại tổ dân phố H, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; giá chuyển nhượng 220.000.000đ/m, nội dung hợp đồng có ghi “Phương thức thanh toán: Bên A đã nhận 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) từ Bên B bằng tiền mặt ngay sau khi ký kết hợp đồng này như là tiền đặt cọc để mua lô đất này...” thực tế số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng bà H không giao tiền mặt mà trừ số tiền nợ 1.000.000.000 (một tỷ) ngày 07-5-2021, nội dung này ông T, bà H thừa nhận và theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 17-3-2022 đã phát sinh hiệu lực của các bên.
[2.1.2]. Như vậy, khi giao kết “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và các bên đã thống nhất chuyển khoản nợ 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) từ hợp đồng vay ngày 07-5-2021 sang số tiền đã giao 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) cho “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” thì khoản nợ theo hợp đồng vay 07-5-2021 đã chấm dứt theo quy định tại khoản 1 Điều 422 Bộ luật dân sự.
[2.2]. Từ vấn đề phân tích nêu trên xét thấy việc ông T căn cứ hợp đồng vay ngày 07-5-2021 khởi kiện yêu cầu ông N và bà Ư trả nợ tổng số tiền 1.338.888.000 đồng, trong đó nợ gốc là 1.000.000.000 đồng và tiền lãi là 338.888.000 đồng là không có căn cứ như nhận định tại tiểu mục [2.1.2] nêu trên. Lẽ ra, cấp sơ thẩm phải bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện này của ông T nhưng lại tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là không đúng pháp luật, đánh giá chứng cứ không toàn diện, khách quan.
[2.3]. Xét yêu cầu khởi kiện của ông T về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 17-3-2022 giữa ông Lê Xuân N, bà Lê Thị Ư với bà Nguyễn Thị Thu H vô hiệu.
[2.3.1]. Theo “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 17-3-2022, bà H vợ ông T là người ký kết hợp đồng nhưng số tiền đã giao ghi nhận trong hợp đồng là số tiền ông T đồng ý chuyển khoản nợ ông T cho bị đơn vay ngày 07-5-2021 và bà H, ông T đều xác nhận số tiền cho vay và diện tích đất nhận chuyển nhượng theo hợp đồng CNQSDĐ ngày 17-3-2022 là tài sản chung của vợ chồng nên căn cứ theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình thì ông T có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.3.2]. Xét “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 17-3-2022 nhận thấy về hình thức hợp đồng các bên thể hiện “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, nhưng nội dung hợp đồng các bên thỏa thuận “Phương thức thanh toán: Bên A đã nhận 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) từ Bên B bằng tiền mặt ngay sau khi ký kết hợp đồng này như là tiền đặt cọc để mua lô đất này...”, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa các bên đều thừa nhận số tiền 1.000.000.000 đồng đã giao là số tiền đặt cọc. Như vậy, có cơ sở xác định hợp đồng các bên giao kết ngày ngày 17-3-2022 là “Hợp đồng đặt cọc” và hợp đồng đã phát sinh hiệu lực theo quy định tại Điều 117 và Điều 328 của Bộ luật Dân sự như nhận định tại tiểu mục [2.1.1].
[2.3.2]. Theo hợp đồng, các bên thỏa thuận bên nhận tiền đặt cọc phải có nghĩa vụ tách thửa hạn cuối đến ngày 30-6-2022 các bên ra công chứng lập hợp đồng chuyển nhượng theo quy định pháp luật, bên đặt cọc giao đủ tiền chuyển nhượng như đã thỏa thuận, sau khi giao kết hợp đồng bị đơn đã liên hệ có quan có thẩm quyền làm thủ tục tách thửa nhưng đến thời hạn 30-6-2022 vẫn chưa làm xong thủ tục tách thửa. Như vậy, nguyên nhân dẫn đến các bên không thực hiện được hợp đồng đúng theo thời hạn là do lỗi khách quan của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên theo quy định pháp luật trong trường hợp này không mất cọc, không phạt cọc. Lẽ ra cấp sơ thẩm phải nhận định hợp đồng đặt cọc giữa các bên ngày 17-3-2022 có hiệu lực pháp luật và buộc ông N, bà Ư trả lại số tiền cọc đã nhận 1.000.000.000 đồng cho ông T, bà H mới đúng nhưng cấp sơ thẩm tuyên “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa các bên vô hiệu do giả tạo theo quy định tại Điều 124 Bộ luật dân sự là có sai lầm trong việc đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật nên cấp phúc thẩm sửa lại cho đúng.
[3]. Từ những phân tích và nhận định nêu trên, xét thấy nội dung kháng cáo của ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư có một phần căn cứ được chấp nhận nên sửa bản án sơ thẩm theo nhận định nêu trên là phù hợp.
[4]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nêu trên là chưa phù hợp nên không được chấp nhận.
[5]. Về án phí:
[5.1]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền gốc và lãi theo hợp đồng vay tài sản không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật; Bị đơn phải chịu án phí đối với số tiền cọc trả lại theo quy định của pháp luật.
[5.2]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm nên ông N và bà Ư không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 51/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 328, khoản 1 Điều 422 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hữu T về việc buộc ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư phải trả khoản nợ vay 1.000.000.000 đồng và tiền lãi suất là 338.888.000 đồng suất, tổng cộng là 1.338.888.000 đồng do Hợp đồng vay tiền ngày 07-5-2021 đã chấm dứt.
- Buộc ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư phải trả lại cho ông Trần Hữu T và bà Nguyễn Thị Thu H số tiền nhận cọc 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) theo “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 17-3-2022.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc ông Trần Hữu T nộp 52.166.640 đồng (Năm mươi hai triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm bốn mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 25.574.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai số 0007151 ngày 20-6-2024 và số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007244 ngày 23-8-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, ông Trần Hữu T còn phải nộp số tiền 26.592.640 đồng (Hai mươi sáu triệu năm trăm chín mươi hai nghìn sáu trăm bốn mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm;
- Buộc ông Lê Xuân N và bà Lê Thị Ư phải nộp 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Trả lại cho ông Lê Xuân Nhân và bà Lê Thị Ư mỗi người số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) phí dân sự phúc thẩm, đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007412 ngày 25-10-2024 và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007462 ngày 08-11-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Ửng |
Bản án số 32/2025/DS-PT ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu tuyên bố hợp đồng cnqsdđ vô hiệu
- Số bản án: 32/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu tuyên bố hợp đồng CNQSDĐ vô hiệu
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm
