Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày 28-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Nga

Ông Vũ Khắc Tân

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân quận Lê Chân và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an thành phố H đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST- HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Thị Thu T (tên gọi khác Phạm Thị V), sinh ngày 07 tháng 12 năm 1957, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: Số E Cầu Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số C đường T, phường T (nay là phường H), quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 03/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Trần Thị N (đều đã chết); bị cáo chưa có chồng con; tiền sự: Không; tiền án: Án số 183/2009/HSST ngày 29/9/2009, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xử 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị bắt, tạm giữ ngày 05/8/2024, tạm giam ngày 09/8/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 05/8/2024, tổ công tác thuộc Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy kết hợp cùng Công an phường A, quận L, Hải Phòng làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số A C, phường A phát hiện Phạm Thị Thu T có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ, trong lòng bàn tay trái của T có 01 túi nilon màu trắng, mép viền đóng mở màu đỏ kích thước 04cm x 08cm bên trong có 1 gói giấy kích thước 07cm x 07cm chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy. Lực lượng Công an đã thu giữ túi nilon trên, ngoài ra, còn thu giữ của T 01 điện thoại Nokia 105 màu đen, 01 đồng hồ màu đen, 02 nhẫn đeo tay màu trắng, 01 xe đạp điện màu trắng không có biển kiểm soát và số tiền 1.158.000 đồng đưa về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 946/KL-KTHS ngày 08/8/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,18 gam, loại Heroine.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Thị Thu T khai nhận: khoảng 08 giờ 30 phút ngày 05/8/2024 T đạp xe đi qua khu vực đường T thì gặp một nam giới (không rõ lai lịch địa chỉ) hỏi T có bán ma túy không, T bảo “không có”. Nam giới nhờ T mua giúp 200.000 đồng Heroine, trả công 20.000 đồng và đợi T ở đường tàu Cát Cụt, khi T đưa ma túy thì nam giới sẽ trả tiền. T đồng ý, đạp xe đến nhà số B đường T, phường T, quận L, Hải Phòng để mua ma túy. T thấy nhà đóng cửa nên nói qua khe cửa: “bán cho cô 01 gói ma túy, lát cô trả tiền”. Người trong nhà đưa qua khe cửa cho T 01 túi nilon màu trắng mép viền đóng mở màu đỏ kích thước 04cm x 08cm bên trong có 01 gói giấy kích thước 07cm x 07cm chứa Heroine. T cất túi ma túy vào túi quần rồi điều khiển xe đi đến đường tàu Cát Cụt để giao ma túy cho người nam giới, khi đi được khoảng 05 m T gặp một người phụ nữ tên H (không rõ lai lịch địa chỉ) đòi tiền T nợ H trước đó dẫn đến việc T và H cãi nhau. Khi thấy lực lượng Công an đi đến Huyền hô to: “con này có ma túy trong người đấy”. T dùng tay trái lấy ma túy trong túi quần định vất đi thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang như trên, lúc này H và nam giới mua ma túy của T đã bỏ đi đâu không rõ. T khai không biết người bán ma túy trong nhà số B đường T là ai vì không nhìn được vào nhà, nhưng vì là hàng xóm nên T biết ở nhà trên có một người phụ nữ tên là L và có hai người nam giới sinh sống ở đây, trong đó có một người tên là T1, người còn lại T không biết là ai. Đây là lần đầu tiên T mua ma túy ở nhà trên.

Xác minh nhà số B đường T có Nguyễn Thị Phương L (sinh năm 1963) sinh sống cùng chồng là Nguyễn Xuân L1 (sinh năm 1962) và hai con trai là Nguyễn Xuân N1 (sinh năm 1984), Nguyễn Anh T1 (sinh năm 1991). Bà L, ông L1, anh N1 và anh T1 khai: biết Phạm Thị Thu T vì là hàng xóm, nhưng không bán ma túy, không cho ai thuê nhà bán ma túy, không biết tại sao T2 khai mua ma túy tại nhà của mình.

Về vật chứng: 01 bì giấy niêm phong số 946MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định, 01 bì thư đựng 01 túi nilon kích thước 7x4cm, 01 bì thư đựng 01 vỏ giấy kích thước 7x7cm, 01 xe đạp điện màu trắng, 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen dạng bàn phím đã qua sử dụng, không lên nguồn, 01 đồng hồ màu đen đã qua sử dụng, 02 nhẫn đeo tay màu trắng và số tiền 1.158.000 đồng.

Đối với người bán ma túy cho Phạm Thị Thu T và người nam giới mua ma túy của T vào ngày 05/8/2024 do không xác định được lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 10/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phạm Thị Thu T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Thu T với mức án từ 36 đến 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy niêm phong số 946MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định, 01 bì thư đựng 01 túi nilon kích thước 7x4cm và 01 bì thư đựng 01 vỏ giấy kích thước 7x7cm. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe đạp điện màu trắng. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen dạng bàn phím đã qua sử dụng, không lên nguồn, 01 đồng hồ màu đen đã qua sử dụng, 02 nhẫn đeo tay màu trắng và số tiền 1.158.000 đồng. Miễn cho bị cáo án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 05/8/2024 bị cáo Phạm Thị Thu T bị bắt quả tang tại khu vực trước cửa nhà số A C, phường A do có hành vi cất giữ trái phép 0,18 gam Heroine để bán kiếm lời. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm.

- Về tình tiết tăng nặng:

[5] Bị cáo có 01 tiền án số 183/2009/HSST ngày 29/9/2009, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xử 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án nên bị cáo phải chịu tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ:

[6] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

- Về hình phạt:

[7] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt để cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung:

[8] Bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

[9] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy niêm phong số 946MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định, 01 bì thư đựng 01 túi nilon kích thước 7x4cm và 01 bì thư đựng 01 vỏ giấy kích thước 7x7cm là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị.

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe đạp điện màu trắng là phương tiện phạm tội.

+ Trả lại cho bị cáo Thủy cáo 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen dạng bàn phím đã qua sử dụng, không lên nguồn, 01 đồng hồ màu đen đã qua sử dụng, 02 nhẫn đeo tay màu trắng và số tiền 1.158.000 đồng do không liên quan đến việc phạm tội.

- Về án phí:

[10] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo T, sinh năm 1957 là người cao tuổi, theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

[11] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Thu T (tên gọi khác Phạm Thị V) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thu T (tên gọi khác Phạm Thị V) 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/8/2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy niêm phong số 946MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định, 01 bì thư đựng 01 túi nilon kích thước 7x4cm và 01 bì thư đựng 01 vỏ giấy kích thước 7x7cm.

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe đạp điện màu trắng.

+ Trả lại cho bị cáo Phạm Thị Thu T 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen dạng bàn phím đã qua sử dụng, không lên nguồn, 01 đồng hồ màu đen đã qua sử dụng, 02 nhẫn đeo tay màu trắng và số tiền 1.158.000 (một triệu một trăm năm mươi tám nghìn) đồng theo giấy ủy nhiệm chi ngày 15/01/2025 của kho bạc nhà nước L2 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn cho bị cáo Phạm Thị Thu T án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Thị Thu T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - PV 06, PC 10 Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Ủy ban nhân dân phường Trại Cau (nay là phường Hàng Kênh), quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: PTTT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger