Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27 - 02 - 2025

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sự.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Bùi Thuý Mở

Bà Nguyễn Thị Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình H- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 369/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 19 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị N; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã H ( nay là thôn B xã Q) thành phố T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V; đăng ký hộ khẩu thường trú Thôn B, xã H ( nay là thôn B xã Q) thành phố T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Bùi Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T thành phố Hải Phòng ngày 14/02/1993. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2024 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do hai bên bất đồng về quan điểm, lối sống. Mặt khác ông V thường xuyên uống rượu say về đánh chửi vợ con, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Gia đình hai bên đã khuyên giải nhiều lần nhưng ông V không cải sửa. Nay bà N không thể chịu đựng thêm được nữa, để giải phóng cho nhau bà N đề nghị Toà án giải quyết được ly hôn ông V.

Về con chung: Bà và ông V có 02 con chung là Nguyễn Văn V, sinh năm 1994 và Nguyễn Văn T, sinh năm 1998. Các con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà và ông V có tài sản chung, nhưng để hai bên tự giải quyết vì vậy không đề nghị Toà án giải quyết.

Ông Nguyễn Văn V là bị đơn, đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà, song ông Nguyễn Văn V vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với đề nghị xin ly hôn của bà Bùi Thị N.

Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, đã thực hiện đúng và đầy đủ quy định về ra Thông báo thụ lý vụ án, bảo đảm về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc lập hồ sơ vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, việc giao nộp và yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ, xác minh, cấp tống đạt và tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã đảm bảo tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, Điều 35, điểm b, khoản 1, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Bùi Thị N và đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Thị N được ly hôn ông Nguyễn Văn V; Về con chung: Trong quá trình chung sống bà N và ông V có 02 con chung tên Nguyễn Văn V, sinh năm 1994 và Nguyễn Văn T, sinh năm 1998. Hai con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đề cập giải quyết. Về tài sản chung: Bà Bùi Thị N trình bày vợ chồng có tài sản chung nhưng để hai bên tự thoả thuận không đề nghị giải vì vậy không đề cập giải quyết; Về án phí: Nguyên đơn bà Bùi Thị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
  2. Bà Bùi Thị N có đơn xin ly hôn ông Nguyễn Văn V đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Văn V hiện đang cư trú tại thôn B, xã Q, thành phố T, thành phố Hải Phòng. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1Điều 35, điểm a khoản 1 Diều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố H

  3. [2] Về sự vắng mặt của đương sự:
  4. Bị đơn là ông Nguyễn Văn V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 277, khoản 1 Điểu 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn V.

  5. [3] Về quan hệ hôn nhân:
  6. Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị N và ông Nguyễn Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H thành phố Hải Phòng theo Giấy đăng ký kết hôn số 006 ngày 14 tháng 02 năm 1993 là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của bà N và tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện: Quá trình vợ chồng bà N và ông V chung sống đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông V thường xuyên uống rượu say về chửi mắng vợ con, mặc dù rất nhiều lần được gia đình khuyên giải nhưng ông V không nghe nên cuộc sống vợ chồng rất căng thẳng và không còn hạnh phúc. Nay bà N làm đơn đề nghị được ly hôn ông Nguyễn Văn V. Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn V đã nhận được các văn bản tố tụng do Toà án tống đạt nhưng đều vắng mặt không có lý do và cũng không đến Toà án để hoà giải. Do đó thể hiện tình cảm vợ chồng của bà Bùi Thị N và ông Nguyễn Văn V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị N, cho Bà N được ly hôn ông Nguyễn Văn V.

  7. [4] Về con chung: Bà Bùi Thị N trình bày bà và ông Nguyễn Văn V có hai con chung: Nguyễn Văn V1, sinh năm 1994 và Nguyễn Văn T, sinh năm 1998. Hiện nay các con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên bà N không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung.
  8. [5] Về tài sản chung:
  9. Bà Bùi Thị N trình bày bà và ông Nguyễn Văn V có tài sản chung nhưng để hai bên tự thoả thuận không đề nghị Toà án giải quyết. Bị đơn ông Nguyễn Văn V vắng mặt tại phiên toà và không có quan điểm trình bày về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  10. [6] Về án phí:
  11. Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Bà Bùi Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Thị N được ly hôn ông Nguyễn Văn V.
  2. Về án phí: Bà Bùi Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nay được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010232, ngày 04 tháng 12 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Bà Bùi Thị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND. TP Hải Phòng;
  • - VKSND.TP.Thuỷ Nguyên;
  • - Cục THADS.TP.Thuỷ Nguyên;
  • - UBND xã Quang Trung, TP. Thuỷ Nguyên, Hải Phòng;
  • - Lưu: VT; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Sự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị N - Nguyễn Văn V Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger