|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HS-ST
Ngày: 25/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Công Ny
- Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ An Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXX-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Chí T, sinh năm 1996; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Ấp D thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở: Phòng số 204 nhà nghỉ Q, số N, đường Đ, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phan Hồng H và bà Nguyễn Thị M.
Tiền án: Ngày 28/6/2018 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xử phạt 09 năm tù theo Bản án số 165/2018/HSST về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 08/02/2024.
Tiền sự: Không.
Bị giữ khẩn cấp từ ngày 02/10/2024 đến ngày 11/10/2024 chuyển tạm giam (Có mặt)
2. Nguyễn Ngọc G, sinh năm 1995; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký thường trú (trước ngày 25/12/2023): 149C/4 đường T, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở: Nhà T, đường B, KDC I, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Ngọc T1 và bà Võ Thị H1.
Tiền án: Ngày 27/10/2021 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm tù giam theo Bản án số 67/HSST về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 28/02/2023.
Tiền sự: Không.
Bị giữ khẩn cấp từ ngày 02/10/2024 đến ngày 11/10/2024 chuyển tạm giam (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty T2 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tầng H, 9, 10 Tòa nhà G, số B đường P, phường F, quận B, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tin báo tố giác của người dân, vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 02/10/2024 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố C kết hợp cùng Công an phường X, quận N tiến hành khám xét khẩn cấp người, đồ vật, phương tiện đối với Nguyễn Chí T và Nguyễn Ngọc G khi cả hai đang đi cùng xe mô tô tại khu V, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. Qua khám xét thu giữ:
- - 01 gói nilon không màu hàn kín, bên trong chứa tinh thể không màu (thu giữ dưới bàn chân phải của Nguyễn Ngọc G); 01 tờ tiền Việt Nam, mệnh giá 1.000 đồng;
- - 01 ĐTDĐ hiệu S1 A05 cùng sim 0776.879.024 (thu giữ của G);
- - 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria biển số 95H1-802.94; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A38 cùng sim số 0933591190 và 0915120530 (thu giữ của T).
Tại Kết luận giám định số 316/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của Phòng K Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4055 gam
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Chí T, Nguyễn Ngọc G khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 02/10/2024 T đến nhà bạn ở đường P chơi thì gặp G và rủ G cùng sử dụng ma túy, G đồng ý. T lấy gói ma túy đã mua trước đó của đối tượng tên S với giá 200.000 đồng để trên bàn rồi kêu G tìm giấy gói lại, G lấy tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng gói ma tuý lại và cất giấu dưới lòng bàn chân phải; G nói sẽ đưa T 100.000 đồng để hùn sử dụng ma túy. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở G đi tìm nơi sử dụng, khi đến khu vực 8, phường X thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện.
Xe mô tô Suzuki Satria 95H1-802.94 do bị cáo Nguyễn Chí T đứng tên chủ sở hữu; T mua xe qua hình thức trả góp vào ngày 14/3/2024, thời hạn vay 24 tháng, hiện đang thế chấp cho Công ty T2, bị cáo T đã góp được 06 kỳ, còn phải thanh toán 45.117.170 đồng.
Đối với đối tượng tên S - bán trái phép ma túy cho bị cáo T, do bị cáo T khai không rõ đầy đủ họ tên, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý khi đủ căn cứ.
Bản Cáo trạng số 39/CT-VKSNK ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố các bị cáo Nguyễn Chí T, Nguyễn Ngọc G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự để kết tội các bị cáo; xử phạt các bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 nằm tù. Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng như sau: tịch thu tiêu hủy gói niêm phong số 316/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của Phòng K - Công an thành phố C; trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Oppo A38 và 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria, trả lại cho bị cáo G 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A05.
Các bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm đoàn tụ gia đình, trở thành công dân tốt trong lời nói sau cùng.
[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận vào ngày 02/10/2024, các bị cáo cất giữ ma túy trong người, chở nhau tìm nơi để cùng nhau sử dụng thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện và bắt giữ. Tại bản kết luận giám định số 316/KL - KTHS ngày 10/10/2024 của Phòng K - Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4055 gam.
Các bị cáo thừa nhận số ma túy các bị cáo cất giữ với mục đích để sử dụng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa chưa chứng minh được các bị cáo mua ma túy về để bán lại, vận chuyển hoặc để sản xuất. Lời khai này phù hợp với kết luận giám định, biên bản khám xét và các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ. Trước đó, bị cáo T đã bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo G bị kết án về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, các bị cáo đều chưa được xóa án tích nên hành vi vi phạm lần này của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ.
Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, có tác hại rất lớn đối với đời sống xã hội, làm suy giảm sức lao động, sản xuất trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người sử dụng. Đây là mầm mống làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Nhà nước nghiêm cấm mọi việc tàng trữ, vận chuyển và mua bán,...các chất ma túy, các bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như biết rõ hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng bất chấp thực hiện. Với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo nên phải có hình phạt tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện học tập, tu dưỡng, trở thành người có ích, đồng thời để phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi thực hiện, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Với những phân tích trên thì mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
Xét thấy, các bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[3] Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ đối tượng tên S bán ma túy cho bị cáo T để xử lý theo quy định của pháp luật.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - Gói niêm phong số 316/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của Phòng K, Công an thành phố C – mẫu vật còn lại sau giám định là ma túy, vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A05 cùng sim 0776879024 là của bị cáo G, 01 điện thoại di động Oppo A38, mật khẩu: 686879, kèm sim 0933591190, 0915120530 là của bị cáo T, chưa chứng minh được có liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo;
- - 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Suzuki Satria màu đỏ đen, biển số 95H1-802.94, số máy: CGA1ID240496, số khung: MH8DL11AZNJ240465, đã qua sử dụng: là của bị cáo T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo T.
Đối với yêu cầu được nhận chiếc xe nêu trên của Công ty T2: Hội đồng xét xử xét thấy, giữa bị cáo T và Công ty T2 có ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản là chiếc xe moto 02 bánh biển số 95H1-802.94 do bị cáo T đứng tên sở hữu. Vì vậy, nếu các bên tranh chấp liên quan đến các hợp đồng này thì có quyền yêu cầu khởi kiện thành vụ kiện khác để được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Chí T, Nguyễn Ngọc G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí T 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2024.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc G 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 316/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của Phòng K, Công an thành phố C.
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Chí T: 01 điện thoại di động Oppo A38, mật khẩu: 686879, kèm sim 0933591190, 0915120530; 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Suzuki Satria màu đỏ đen, biển số 95H1-802.94, số máy: CGA1ID240496, số khung: MH8DL11AZNJ240465, đã qua sử dụng.
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc G: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A05 cùng sim 0776879024
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo (Nguyễn Chí T, Nguyễn Ngọc G) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Mai |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chí T, Nguyễn Ngọc G phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
