Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/DS-ST

Ngày: 25 - 02 - 2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng cầm cố

và thuê quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Thanh Chắc
  2. Bà Trần Thị Út

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Huỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 135/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố và thuê quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Trần Quốc K, sinh năm: 1966
  • Địa chỉ: Ấp D, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  • Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Phan Thị Á, sinh năm: 1967 (có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp D, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang
  • (Văn bản uỷ quyền ngày 20/8/2024)
  • - Bị đơn:
    1. Bà Nguyễn Thị Á1 (vắng mặt).
    2. Anh Võ Thái Quốc A (vắng mặt).
  • Cùng địa chỉ: Ấp C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Phan Thị Á (gọi tắt là bà Á) là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Quốc K (gọi tắt là ông K) trình bày:

Ngày 12/9/2016 ông Trần Quốc K có nhận cố của bà Nguyễn Thị Á1 phần đất là 05 công tầm 3m với giá là 80.000.000 đồng, thời hạn là 03 năm, hết thời hạn nếu bà Á1 không chuộc lại thì ông K được tiếp tục sử dụng, khi thoả thuận hai bên có viết giấy tay có bà Á1 ký tên. Sau khi nhận cố ông K đã giao đủ tiền cho bà Á1, bà Á1 đã giao đất cho ông K canh tác. Sau đó đến ngày 05/10/2016 bà Nguyễn Thị Á1 và con trai là Võ Thái Quốc A có lập hợp đồng cầm cố thế chấp đất có bà Á1 và anh A ký tên. Đến ngày 09/12/2016 bà Á1 đến nhà kêu cố thêm 20.000.000 đồng thêm thời hạn 02 năm nữa. Tổng số tiền cố đất trước sau là 100.000.000 đồng và tổng thời hạn là 05 năm (2016-2021). Việc thoả thuận cố thêm này có ghi nhận vào giấy viết tay và hợp đồng cố đất đã ký trước đó. Sau khi thoả thuận thống nhất xong, ông K đã đưa đủ cho bà Á1 thêm 20.000.000 đồng. Đến hạn chuộc lại đất là năm 2021 bà Á1 không có tiền chuộc nên vào năm 2022 ông K có cho bà Á1 thuê lại phần đất cố này với giá 10.000.000đồng/năm/05 công. Bà Á1 đã canh tác được 02 năm nhưng bà Á1 chỉ trả được 10.000.000 đồng tiền thuê đất, ông K có yêu cầu bà Á1 trả lại tiền thuê đất là 10.000.000 đồng và trả lại số tiền cố đất là 100.000.000 đồng nhưng bà cứ hứa hẹn mà không thực hiện. Hiện nay phần đất cố này bà Á1 đã đang quản lý sử dụng.

Do đó, ông Trần Quốc K khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Á1 và anh Võ Thái Quốc A trả lại tiền thuê đất là 10.000.000 đồng và trả lại số tiền cố đất là 100.000.000 đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Á1, anh Võ Thái Quốc A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hoà giải nhưng đều vắng mặt không có lý nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn về yêu cầu khởi kiện của ông K và không thể tiến hành tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Á1 và anh Võ Thái Quốc A.

Tại phiên tòa bà Phan Thị Á là người đại diện theo uỷ quyền của ông K xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà Nguyễn Thị Á1 và anh Võ Thái Quốc A như sau: Bà Á rút lại yêu cầu khởi kiện đối với số tiền thuê đất 10.000.000 đồng và rút lại yêu cầu khởi kiện đối với anh Võ Thái Quốc A, chỉ khởi kiện đối với bà Nguyễn Thị Á1. Yêu cầu bà Nguyễn Thị Á1 trả lại số tiền cố đất là 100.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị hội đồng xét xử xem xét các vấn đề sau:

Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Quốc K đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Á1. Tuyên bố hợp đồng cầm cố thế chấp đất ngày 05/10/2016 và giấy cố đất (cầm) viết tay giữa ông Trần Quốc K và bà Nguyễn Thị Á1 vô hiệu. Buộc bà Á1 trả lại cho ông K số tiền cố đất là 100.000.000 đồng, bà Á1 đã nhận lại đất nên không xem xét.

Do bà Á là đại diện ủy quyền của ông K đã rút lại một phần yêu cầu khởi kiện nên đề nghị hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quốc K đối với bà Nguyễn Thị Á1 và ông Võ Thái Quốc A tiền thuê đất là 10.000.000 đồng và yêu cầu khởi kiện về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất đối với bị đơn Võ Thái Quốc A theo quy định pháp luật.

Về án phí bị đơn phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá và nhận định về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Trần Quốc K yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Á1 và anh Võ Thái Quốc A trả số tiền cầm cố quyền sử dụng đất là 100.000.000 đồng và tiền thuê quyền sử dụng đất 10.000.000 đồng. Căn cứ theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng dân sự - Cầm cố quyền sử dụng đất và thuê quyền sử dụng đất”. Bị đơn bà Nguyễn Thị Á1 và anh Võ Thái Quốc A có nơi cư trú tại ấp C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Á1 và anh Võ Thái Quốc A đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho họ theo quy định pháp luật.

[1.3]. Về việc thay đổi bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Phan Thị Á là đại diện ủy quyền nguyên đơn ông

Trần Quốc K xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Á1 và anh Võ Thái Quốc A đối với số tiền thuê đất 10.000.000 đồng và rút lại yêu cầu khởi kiện đối với anh Võ Thái Quốc A, chỉ khởi kiện đối với bà Nguyễn Thị Á1, xét thấy việc bà Á rút lại một phần yêu cầu khởi kiện là do ý chí tự nguyện của bà Á nên hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu mà bà Á đã rút.

[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quốc K yêu cầu chấm dứt hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và buộc bà Nguyễn Thị Á1 trả số tiền cố đất là 100.000.000 đồng hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1]. Đối với hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất: Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Á đã cung cấp cho Tòa án “Giấy cố đất (cầm)” không thể hiện ngày tháng năm giấy cố đất do ông K và bà Á1 lập và cùng ký tên và “Hợp đồng cầm cố thế chấp đất” ngày 05/10/2016 do ông K và bà Á1 lập, có ông K, bà Á1 và anh A cùng ký tên, tuy nhiên bà Á xác định hợp đồng cầm cố thế chấp đất chỉ có bản photo không có bản gốc do bị thất lạc, nội dung giấy cố đất và hợp đồng cầm cố thế chấp đất thể hiện ông K nhận cố của bà Á1 phần đất 05 công tầm 3m với giá 80.000.000 đồng thời hạn là 03 năm từ ngày 12/9/2016 đến 12/9/2019. Sau thời gian nhận cố đất, đến ngày 09/12/2016 bà Á1 tiếp tục cố thêm thời hạn 02 năm với giá 20.000.000 đồng và có ghi nhận thêm vào giấy cố đất và hợp đồng cầm cố thế chấp đất, như vậy số tiền cố đất trước sau tổng cộng là 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không lý do, không cung cấp ý kiến, chứng cứ để phản bác lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp, việc bị đơn vắng mặt cho thấy bị đơn đã tự từ bỏ nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh. Theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “ Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Từ các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp hội đồng xét xử xác định ông Trần Quốc K có nhận cố đất của bà Nguyễn Thị Á1 là sự thật, “hợp đồng cầm cố thế chấp đất” ngày 05/10/2016 và “Giấy cố đất (cầm)” giấy viết tay không ngày tháng năm là chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.2]. Xét giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông K và bà Á1 nhận thấy tại thời điểm các bên thực hiện giao dịch cầm cố đất với nhau năm 2016, Bộ luật dân sự và Luật đất đai có hiệu lực tại thời điểm này đều không quy định người sử dụng đất được quyền cầm cố quyền sử dụng đất. Do đó hội đồng xét xử xác định giao dịch hợp đồng cầm cố đất giữa ông K và bà Á1 là vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật theo quy định tại Điều 127 và 128 Bộ luật dân sự 2005. Căn cứ Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005 hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì

không làm phát sinh thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập giao dịch. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Do đó, bà Á1 có nghĩa vụ trả lại cho ông K số tiền 100.000.000 đồng và hiện tại ông K không canh tác phần đất đã nhận cố nên không xem xét việc giao trả đất.

[3]. Từ những phân tích trên xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở phù hợp với quy định pháp luật nên được hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị đơn Nguyễn Thị Á1 phải nộp 5% án phí có giá ngạch trên tổng số tiền phải thực hiện nghĩa vụ là 100.000.000 đồng x 5% = 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.

[5]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ theo quy định tại Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91, Điều 92; Điều 95; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 và Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 127; Điều 128 và Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005.

Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Quốc K đối với bị đơn Nguyễn Thị Á1 về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất.
  2. Tuyên bố “Hợp đồng cầm cố thế chấp đất” ngày 05/10/2016 và “Giấy cố đất (cầm)” giấy viết tay không thể hiện ngày tháng năm giữa ông Trần Quốc K và bà Nguyễn Thị Á1 là vô hiệu.
  3. Buộc bà Nguyễn Thị Á1 có nghĩa vụ trả cho ông Trần Quốc K số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
  4. Phần đất bà Nguyễn Thị Á1 đang canh tác quản lý nên không xem xét.
  5. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quốc K đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Á1 và anh Võ Thái Quốc A về số tiền tiền thuê đất 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và đình chỉ yêu cầu khởi kiện về hợp đồng cầm cố đất của ông Trần Quốc K đối với anh Võ Thái Quốc A.
  6. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  7. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị Á1 phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Nguyên đơn ông Trần Quốc K được nhận lại 2.750.000 đồng (hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu tiền số 0010242 phiếu lập ngày 16/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  9. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/02/2025). Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND H. Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS H. Long Mỹ;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thúy Ngoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng cầm cố và thuê quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 32/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố và thuê quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông K yêu cầu ông A trả lại QSD đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger