TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25-02-2025
V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Tấn Dũng.
- Ông Nguyễn Tuấn Lam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 270/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXX-ST ngày 14 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Bùi Văn D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986; Nơi cư trú: Ấp A, xã TP2, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Chị Thị Ngọc B, sinh ngày 13 tháng 8 năm 1997; Nơi cư trú: Ấp A, xã TP2, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 10 năm 2024 và bản khai ngày 14 tháng 01 năm 2025 của nguyên đơn anh Bùi Văn D trình bày: Anh và chị Thị Ngọc B kết hôn vào năm 2015, trước khi kết hôn cả hai có tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường B, thành phố VT, tỉnh HG. Sau khi kết hôn cả hai cùng nhau đi làm tại thành phố Hồ Chí Minh, đến năm 2019 thì về xã TP2, huyện HN, sinh sống. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, đến tháng 01 năm 2023 thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn về chuyện tiền bạc, dẫn đến cãi nhau, đến tháng 02 năm 2024 chị B dọn đồ ra ở riêng và từ đó vợ chồng không còn sống chung với nhau cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không hàn gắn được nữa, nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Thị Ngọc B. Về con chung, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Bùi Trăm A, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2016, không yêu cầu chị Thị Ngọc B cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống anh với chị Thị Ngọc B không có tài sản chung cũng như không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với chị Thị Ngọc B đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chị từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.
Tại bản khai ngày 14 tháng 01 năm 2025, cháu Bùi Trăm A trình bày: Cha và mẹ ly hôn con sống với cha.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Bùi Văn D được ly hôn với chị Thị Ngọc B; về nuôi con chung: Giao con chung Bùi Trăm A, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2016 cho anh Bùi Văn D tiếp tục nuôi dưỡng, chị Thị Ngọc B không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Bùi Văn D không có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Anh Bùi Văn D trình bày không có, còn chị Thị Ngọc B không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2] Nguyên đơn anh Bùi Văn D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Thị Ngọc B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Bùi Văn D và chị Thị Ngọc B là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của anh Bùi Văn D đối với chị Thị Ngọc B, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của anh Bùi Văn D thì cuộc sống của anh và chị Thị Ngọc B không còn hạnh phúc từ tháng 01 năm 2023 do hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn về chuyện chuyện tiền bạc, thường xuyên cải nhau, sống chung không hạnh phúc, chị B dọn đồ ra ở riêng và cả hai không còn sống chung với nhau từ tháng 02 năm 2024. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của anh D và chị B hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của anh D là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho anh Bùi Văn D ly hôn với chị Thị Ngọc B.
[4] Về việc nuôi con chung: Anh Bùi Văn D yêu cầu được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Bùi Trăm A, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2016, không yêu cầu chị Thị Ngọc B cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh D và chị B không còn sống chung và hiện nay con chung do anh D chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng thời cháu Trăm A cũng có nguyện vọng sống với anh D, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh D được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị B không phải cấp dưỡng nuôi con do anh D không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Bùi Văn D cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn chị Thị Ngọc B không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[6] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn D, cho ly hôn giữa anh Bùi Văn D và chị Thị Ngọc B.
- Về việc nuôi con chung:
- Anh Bùi Văn D được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Bùi Trăm A, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2016.
- Chị Thị Ngọc B không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí sơ thẩm: Anh Bùi Văn D chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014564 ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lương Bằng |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh D yêu cầu ly hôn với chị B
