|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/02/2025 V/v "Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Rạt
- Bà Trương Thị Kim Tiến
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1131/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐHST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Hồ Nguyễn Trường V, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Bà Đ có đơn đề nghị vắng mặt, ông V vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 23/9/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bà Đ và ông V có tìm hiểu nhau và sau đó đi đến hôn nhân. Ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 21/7/2023. Thời gian đầu chung sống vợ chồng tương đối hạnh phúc. Tuy nhiên, sau này vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong hôn nhân, tình cảm rạn nứt, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì quan hệ hôn nhân nên bà Đ khởi kiện yêu cầu:
Về tình cảm: Bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu ly hôn với ông Hồ Nguyễn Trường V.
Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Nguyễn Đăng K, sinh ngày 29/10/2023, con đang sống với ông V. Khi ly hôn, bà Đ đồng ý để ông V tiếp tục nuôi con chung, bà Đ không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Hồ Nguyễn Trường V vắng mặt trong quá trình thụ lý giải quyết và vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.
Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng cho ông Hồ Nguyễn Trường V theo quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông V biết Tòa án đang thụ lý giải quyết ly hôn với bà Đ nhưng ông V không tham gia cung cấp ý kiến, không tham gia hòa giải, nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, ông Hồ Nguyễn Trường V vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử giải quyết theo đơn khởi kiện của bà Đ và xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Đ bận việc nên có đơn đề nghị xử vắng mặt. Tòa án quyết định xử vắng mặt nguyên đơn quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Hồ Nguyễn Trường V có nơi cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nơi bị đơn cư trú thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Đầm B việc nên có đơn đề nghị xử vắng mặt; ông Hồ Nguyễn Trường V vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp theo qui định khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về tình cảm: Xét quan hệ hôn nhân bà Đ, ông V có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 21/7/2023 nên hôn nhân giữa bà Đ với ông V là hợp pháp theo qui định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu ly hôn của bà Đ đối với ông V: bà Đ cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống và công việc, không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hôn nhân không hạnh phúc. Nay bà Đ thấy tình nghĩa vợ chồng không còn nên xin ly hôn. Tòa án đã tiến hành tống đạt mời ông Hồ Nguyễn Trường V, ông V biết Tòa án đang thụ lý giải quyết ly hôn với bà Đ nhưng ông V không tham gia cung cấp ý kiến, không tham gia hòa giải cho thấy ông V không có thiện chí hàn gắn. Từ đó, Hội đồng xét xử xét hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Đ với ông Hồ Nguyễn Trường V đã mâu thuẫn trầm trọng nên bà Đ yêu cầu xin ly hôn với ông V là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2]. Về con chung: Bà Đ trình bày trong quá trình chung sống giữa bà Đ với ông V có 01 con chung tên Hồ Nguyễn Đăng K, sinh ngày 29/10/2023, con chung đang sống với ông V. Khi ly hôn, bà Đ đồng ý để ông V tiếp tục nuôi con chung, bà Đ không cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, ông Hồ Nguyễn Trường V vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến trình bày đối với vấn đề con chung, trong khi bà Đ xác định cháu K đang chung sống ổn định với ông V, ông V vẫn đảm bảo sự phát triển của cháu K và đồng ý giao con chung cho ông V tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, Hôi đồng xét xử tiếp tục giao cháu K cho ông V nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông V vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến, yêu cầu bà Đ cấp dưỡng nuôi con, không trái với các qui định tại các Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên HĐXX xác định ông V không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.4]. Về tài sản chung: bà Đ xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về nợ chung: bà Đ xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Hồ Nguyễn Trường V vắng mặt tại phiên tòa, không thể hiện ý kiến về tình cảm, con chung, cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét giải quyết. Nếu sau này, giữa bà Đ và ông V có phát sinh tranh chấp về con chung, cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung thì các bên được quyền khởi kiện để giải quyết trong một vụ án khác.
[3].Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thuờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án;
Buộc nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí ly hôn sung Ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng các Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Đ đối với ông Hồ Nguyễn Trường V.
Bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Hồ Nguyễn Trường V.
- Về con chung: Khi ly hôn, ông Hồ Nguyễn Trường V được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Hồ Nguyễn Đăng K, sinh ngày 29/10/2023 đến khi trưởng thành. Bà Nguyễn Thị Đ không cấp dưỡng nuôi con vì ông V không yêu cầu.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Đ trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Đ trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước, khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí bà Đ đã nộp theo biên lai số 0005688 ngày 24/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa sang án phí để thi hành. Bà Nguyễn Thị Đ đã nộp xong.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày niêm yết.
Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Linh Duy |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Đ ly hôn ông Hồ Nguyễn Trường Vũ
