Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/DS-PT

Ngày: 24/02/2025

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Phương.
  • - Các Thẩm phán: Ông Ung Quang Định.
  • Ông Thái Văn Hà.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 tháng 01 năm 2025 và 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 107/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2024/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 236/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trịnh Quốc H; cư trú tại: Khu phố A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

Bị đơn: Ông Lê Thanh L; cư trú tại: Thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Nguyễn Thị L1; cư trú tại: Khu phố A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
  • - Bà Trần Thị Tú T; cư trú tại: Tổ A, khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
  • - Người kháng cáo: Ông Trịnh Quốc H là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Ông Trịnh Quốc H trình bày:

Vào ngày 9/7/2019 ông Lê Thanh L và vợ chồng ông có viết giấy đặt cọc tiền với nội dung ông L đặt cọc 80.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và mua căn nhà, kèm theo các tài sản của vợ chồng ông H, bà L1 như gồm: Quán bán tạp hóa, vườn cây bờ lời... với giá là 900.000.000 đồng. Ngày 08/11/2019, vợ chồng ông có nhận thêm tiền cọc ông Lê Thanh L số tiền 300.000.000 đồng và vợ chồng ông có ghi giấy biên nhận với nội dung: Tổng cộng 02 lần đặt cọc là 380.000.000 đồng, hẹn đến ngày 08/12/2019 ông L sẽ trả thêm số tiền 220.000.000 đồng, số tiền còn lại 300.000.000 đồng ông L sẽ thanh toán cho ngày 08/12/2020, sau đó ông sẽ làm thủ tục sang tên đất chủ cho ông L. Đến ngày 10/10/2022, ông L và vợ chồng ông đã chốt các lần giao tiền trên bằng hợp đồng đặt cọc với nội dung: Vợ chồng ông nhận tiền đặt cọc là 440.000.000 đồng, để vợ chồng làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 52, tờ bản đồ số 25, với diện tích 140m², tại thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định với giá 900.000.000 đồng, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD866877 (nay là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS02706 ngày 06/12/2022, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho vợ chồng ông H, bà L1), thời hạn đặt cọc là 05 ngày kể từ ngày 10/10/2022, hai bên sẽ xác lập và công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và mua tài sản. Đến ngày để thực hiện hợp đồng thì vợ chồng ông đã: Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bình Định để làm hợp đồng chuyển nhượng thửa đất và tài sản nói trên, nhưng ông L không giao đủ số tiền còn lại nên vợ chồng ông không ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho ông L. Thời gian vợ chồng ông nhận tiền bán nhà và các tài sản hiện có ở trong nhà và tài sản ngoài vườn thừa cho ông L đã lâu, dù ông L chưa giao đủ tiền nhưng vợ chồng ông vẫn đồng ý để ông L dọn về nhà ở, vì nghĩ hoàn cảnh vợ chồng ông L khó khăn nên vợ chồng ông cũng tạo điều kiện để ông L ổn định cuộc sống rồi thu xếp tiền để giao đủ cho vợ chồng ông, nhưng đến ngày hẹn thì ông L lại không thực hiện theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng mà hai đã cam kết. Việc tranh chấp này cũng đã được ủy ban nhân dân xã V hòa giải nhưng không thành.

Nay ông yêu cầu ông L phải trả lại nguyên hiện trạng các tài sản cho vợ chồng ông theo các Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản và do ông L không nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nữa nên ông L phải chịu mất tiền cọc 440.000.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Lê Thanh L trình bày:

Ông xác nhận đã đặt cọc 440.000.000 đồng để tiến tới nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của vợ chồng ông H, bà L1. Khi giao tiền đặt cọc 440.000.000 đồng vào ngày 08/11/2019 cho vợ chồng ông H, bà L1 thì giữa ông và vợ chồng ông H, bà L1 đã có thỏa thuận như sau: Ông nhận, vào ở nhà và quản lý các tài sản gồm: 01 căn nhà cấp 4 có 01 phòng bán hàng tạp hóa, 02 phòng karaoke, 01 phòng bếp, 01 máy tiện gỗ, 01 máy chụp ảnh, 01 máy in, 01 giường gỗ, 01 máy bơm và 01 cái nhà xe từ ngày 08/11/2019. Ông không quản lý các tài sản: 01 vườn cây bời lời, 06 cây Xoan và diện tích đất ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khoảng 500m², 01 máy ép nhựa, 01 máy xay bột nước như ông H trình bày, còn hệ thống camera gồm 03 mắt camera và 01 đầu thu, thì ông và H trực tiếp đi mua, số tiền mua camera là tiền của ông nên là tài sản của ông. Sau đó ông H có cho ông xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH01081 ngày 05/4/2017, do UBND huyện V, tỉnh Bình Định cấp cho hộ ông H, bà L1 thì phát hiện ra diện tích Nhà nước cấp cho ông H, bà L1 chỉ có 140m² và tài sản ngôi nhà chưa gắn liền trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông yêu cầu ông H, bà L1 phải làm thủ tục gắn căn nhà nêu trên vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác nhận của chính quyền địa phương về thực tế diện tích sử dụng đất không tranh chấp để sau này ông được sử dụng ổn định lâu dài. Tuy nhiên, vợ chồng ông H, bà L1 đã làm hợp đồng đặt cọc vào ngày 10/10/2022 với tôi với diện tích đất ở 140m², nhưng không có căn nhà gắn liền với Giấy nhận quyền sử dụng nêu trên. Ông H hứa với ông là sẽ đi làm thủ tục gắn tài sản vào đất và trong thời hạn 10 ngày, tôi phải thực hiện thanh toán cho vợ chồng ông H, bà L1 460.000.000 đồng còn lại, sau khi đã hoàn tất hồ sơ thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng toàn bộ diện tích nhà đất nêu trên. Thế nhưng, đến ngày 07/3/2023 vợ chồng ông H mới đưa ra bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó diện tích xây dựng nhà 61m² diện tích đất 140m². Tôi thấy Giấy chứng nhận này diện tích nhà, đất không đúng với thỏa thuận mà hai bên đã cam kết ban đầu dẫn đến hai bên hiểu lầm và mặc dù hai bên đã thương lượng và tự hòa giải nhưng không thống nhất được. Ông đồng ý trả lại căn nhà và các tài sản mà ông đang quản lý và yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông H, bà L1 phải hoàn trả lại cho ông 440.000.000 đồng tiền cọc.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1 trình bày:

Thống nhất theo nội dung của ông Trịnh Quốc H trình bày, không có bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Tú T trình bày:

Bà và ông Lê Thanh L sinh sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn. Bà không biết và không liên quan gì đến số tiền đặt cọc 440.000.000 đồng nên bà không có ý kiến gì.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã quyết định:

Tuyên bố 03 giấy đặt cọc (01 giấy đề ngày 09/7/2019, 01 giấy đề ngày 08/11/2019, 01 giấy đề ngày 10/10/2022) kèm theo 02 Biên nhận giấy nhận tiền (01 giấy đề ngày 09/7/2019, 01 giấy đề ngày 08/11/2019) đều bị vô hiệu.

Buộc bị đơn Lê Thanh L giao trả lại các tài sản cho vợ chồng ông Trịnh Quốc H và bà Nguyễn Thị L1 gồm:

  • Nhà chính mã hiệu N9, nhà bếp mã hiệu N9, nhà sàn mã hiệu N11 (bên cạnh nhà chính), tráp tôn trước nhà, phòng karaoke mã hiệu N7, máy xay bột nước (không có động cơ mô tơ, đã cũ, rỉ sét, thủng), 03 Camera đã hư hỏng, 01 cái Giường rộng 1,6m, dài 02m, thành (18x3)cm, gỗ dổi, 01 máy rửa ảnh Camonseliphy, 01 máy ảnh Nikon D3400, 01 máy ép nhựa FGK 320, 02 loa SVS, 01 bộ micro Shure UGX9, 01 âm ly Guinness Spa-360, 01 đầu DVD karaoke Arirang, 04 loa Taman, 01 tivi Asanzo 45 inch, 01 tivi Asanzo 50 inch, 01 âm ly California Pro 183, 01 bộ M W1000, 01 đầu karaoke smat Arirang, 01 máy tiện gỗ + mô tơ 2,21 kw, 01 máy bơm nước.

Buộc vợ chồng ông Trịnh Quốc H, bà Nguyễn Thị L1 phải hoàn trả số tiền 440.000.000 đồng cho ông Lê Thanh L.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, ông Trịnh Quốc H và bà Nguyễn Thị L1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn và ông Lê Thanh L phải chịu mất 440.000.000 đồng tiền cọc, do ông L đã vi phạm thỏa thuận tại hợp đồng đặt cọc.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về Tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) không chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh Quốc H và bà Nguyễn Thị L1,giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của ông Trịnh Quốc H và bà Nguyễn Thị L1 HĐXX thấy rằng:

[1.1] Từ ngày 09/7/2019, đến ngày 10/10/2022 giữa ông L và vợ chồng ông H, bà L1 đã 03 lần xác lập hợp đồng đặt cọc với số tiền 440.000.000 đồng, để đảm bảo cho việc vợ chồng ông H, bà L1 tiến tới giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhà, đất và các tài sản trên đất tại để vợ chồng làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 52, tờ bản đồ số 25, diện tích 140m² tại thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định với giá 900.000.000 đồng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD866877 (nay là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS02706 ngày 06/12/2022, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho vợ chồng ông H, bà L1. Điều đó chứng tỏ mục đích của các bên là vợ chồng ông H, bà L1 chuyển nhượng cho ông L tài sản nói trên.

[1.2] Sau khi tiến hành đặt cọc 440.000.000 đồng thì vợ chồng ông H, bà L1 đã bàn giao tài sản nhà, đất cho ông L quản lý và sử dụng các tài sản trên đất của vợ chồng ông H, bà L1 làm ăn, buôn bán từ đó cho tới nay. Hơn nữa, quá trình sử dụng đất của vợ chồng ông H, bà L1 thì ông L đã tự ý cất một ngôi nhà sàn trên đất để sử dụng (theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ tại cấp sơ thẩm ngày 07/11/2023), nhưng hiện nay ông L đã tháo dỡ ngôi nhà sàn này. Điều này chứng tỏ ông L đã xác định ý chí là nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất và tài sản khác ngắn liền với đất của vợ chồng ông H, bà L1 và xem như khối tài sản này đã thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông L.

[1.3] Mặt khác, vợ chồng ông H, bà L1 cũng đã thực hiện yêu cầu của ông L, là các tài sản gắn liền với đất phải được ghi nhận trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều này được thể hiện qua việc ngôi nhà đã được ghi nhận trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS02706 ngày 06/12/2022, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho vợ chồng ông H, bà L1. Ngày 8/11/2019 và ngày 06/3/2023 ông H và ông L đã tiến hành xác lập các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (chưa có công chứng hoặc chứng thực). Như vậy, từ giai đoạn hợp đồng đặt cọc, đã chuyển sang gia đoạn ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất ngày 06/3/2023 giữa hai bên đã có hiệu lực pháp luật. Vợ chồng ông H, bà L1 đã giao nhà, đất và các tài sản trên đất nêu trên cho ông L sở hữu, sử dụng, nhưng ông L mới thanh toán cho vợ chồng ông H, bà L1 440.000.000 đồng. Do đó, ông L còn phải thanh toán cho vợ chồng ông H, bà L1 460.000.000 đồng còn lại. Cấp sơ thẩm xác định các hợp đồng đặt cọc giữa vợ chồng ông H, bà L1 và ông L là giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn và lỗi hoàn toàn thuộc về vợ chồng ông H, bà L1 và buộc vợ chồng ông Trịnh Quốc H, bà nguyễn Thị L1 phải trả lại cho ông L số tiền đạt cọc nêu trên là không có căn cứ.

[2] Từ những phân tích trên, xét thấy một phần kháng cáo của vợ chồng ông H, bà L1 là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận, sửa án sơ thẩm về phần giải quyết hợp đồng đặt cọc và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

[3] Về án phí, chi phí tố tụng khác:

[3.1] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147, 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, thì ông Lê Thanh L phải chịu 22.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Vợ chồng ông Trịnh Quốc H, bà nguyễn Thị L1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho vợ chồng ông Trịnh Quốc H, bà nguyễn Thị L1.

[3.2] Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 02 lần là 19.000.000 đồng, theo quy định tại các Điều 157, 165 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ông Lê Thanh L phải chịu chi phí tố tụng này. Vợ chồng ông Trịnh Quốc H, bà nguyễn Thị L1 đã ứng chi xong số tiền trên nên ông Lê Thanh L phải hoàn trả lại cho vợ chồng ông Trịnh Quốc H, bà nguyễn Thị L1.

[4] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm là phù hợp với nhận định của HĐXX Về việc giải quyết vụ án là không phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 147, 148, 157, 165, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 328 của Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần kháng cáo của vợ chồng ông Trịnh Quốc H, bà nguyễn Thị L1. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định Bình Định về hợp đồng đặt cọc và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Quốc H.

1.1 Tuyên bố chấm dứt 03 hợp đồng đặt cọc ngày 09/7/2019, ngày 08/11/2019 và 10/10/2022 giữa vợ chồng ông Trịnh Quốc H, bà Nguyễn Thị L1 và ông Lê Thanh L.

1.2 Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/3/2023 giữa ông Trịnh Quốc H và ông Lê Thanh L đã có hiệu lực pháp luật.

1.3 Buộc ông Lê Thanh L phải có nghĩa vụ thanh toán cho cho vợ chồng ông Trịnh Quốc H và bà Nguyễn Thị L1 460.000.000 đồng tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất còn lại.

1.3 Lê Thanh L được trọn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, theo diện tích đo vẽ thực tế ngày 27/11/2024, thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 25, diện tích 140m² đất ở, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DĐ 517197, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS02706 ngày 06/12/2022 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Trịnh Quốc H, bà Nguyễn Thị L1 và 1.213,7m² đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng, tọa lạc tại thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định (sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính và hoàn tất các thủ tục về quyền sử dụng đối với phần đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), gồm:

  • - 01 ngôi nhà mã hiệu N9.
  • - 01 nhà bếp mã hiệu N9.
  • - Tráp tôn trước nhà.
  • - Các phòng karaoke.
  • - 01 máy xay bột nước.
  • - 03 Camera đã hư hỏng.
  • - 01 Giường rộng 1,6m, gỗ giổi.
  • - 01 máy rửa ảnh Camonseliphy.
  • - 01 máy ảnh Nikon D3400.
  • - 01 máy ép nhựa FGK 320.
  • - 02 loa SVS + 01 bộ micro Shure UGX9 + 01 âm ly Guinness Spa-360+ 01 đầu DVD karaoke Arirang.
  • - 04 loa Taman (02 lớn; 02 02 nhỏ) + 01 tivi Asanzo 45 inch + 01 tivi Asanzo 50 inch + 01 âm ly C 183 + 01 bộ M W1000 + 01 đầu karaoke smat Arirang.
  • - 01 máy tiện gỗ + mô tơ 2,21 kw.
  • - 01 máy bơm nước.

2. Về án phí, chi phí tố tụng khác:

2.1 Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Lê Thanh L phải chịu 22.400.000 đồng.
  • - Hoàn trả lại cho ông Trịnh Quốc H 11.100.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0006579 ngày 23/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.

2.2 Về án phí dân sự phúc thẩm:

Hoàn trả cho vợ chồng ông Trịnh Quốc H và bà Nguyễn Thị L1 mỗi người 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu số: 000541 và 000542 ngày 13/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.

2.3 Về chi phí tố tụng khác:

Ông Lê Thanh L phải hoàn trả lại cho vợ chồng ông Trịnh Quốc H, bà nguyễn Thị L1 19.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

3.1 Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3.2 Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - TAND huyện Vĩnh Thạnh;
  • - CCTHADS huyện Vĩnh Thạnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Tòa dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Công Phương

NHẬN ĐỊNH CỦA CẤP SƠ THẨM

[1] Về tố tụng: Đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và đòi lại tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn có nơi cư trú ở thôn K2, xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh nên thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh theo quy định tại các Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tuân thủ đúng, đủ về thủ tục tố tụng, tạo điều kiện, đảm bảo quyền của đương sự tham gia tố tụng theo quy định. Các đương sự đều chấp hành nghiêm túc, đầy đủ. Tại phiên tòa hôm nay sự vắng mặt của các đương sự: Bà Trần Thị Tú Thịnh và bà Nguyễn Thị Lan. Tuy nhiên, bà Thịnh và bà Lan đã có đơn xin xét xử văng mặt nên theo quy định tại khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về nội dung vụ án:

Vợ chồng ông Trịnh Quốc Hùng, bà Nguyễn Thị Lan và ông Lê Thanh Liêm có viết 03 giấy đặt cọc (01 giấy đề ngày 09/7/2019, 01 giấy đề ngày 08/11/2019, 01 giấy đề ngày 10/10/2022) và 02 Biên nhận giấy nhận tiền (01 giấy đề ngày 09/7/2019, 01 giấy đề ngày 08/11/2019) nhằm mục đích để bảo đảm thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và tất cả các tài sản khác theo giấy đặt cọc mà ông Lê Thanh Liêm tự viết đề ngày 09/7/2019, cụ thể như ông Liêm tự viết tay được tóm tắt như sau: “Ông Liêm đặt cọc 80.000.000 đồng để chuyển nhượng quyền sử dụng đất và căn nhà và kèm theo các tài sản như: Tạp hóa, vườn cây bờ lời, diện tích sử dụng đất như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vườn thừa (diện tích vườn thừa không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) với giá trị chuyển nhượng là 900.000.000 đồng, trước khi giao tiền còn lại và sang tên sổ đỏ để tôi đi vay tiền trả đủ cho bà Nguyễn Thị Lan, các bên có ký xác nhận chữ ký và ghi rõ họ tên của bà Nguyễn Thị Lan và ông Lê Thanh Liêm”. Từ giấy đặt cọc ban đầu các bên thống nhất với giá chuyển nhượng là 900.000.000 đồng. Tiếp đó, các bên có viết biên nhận về việc vợ chồng ông Hùng nhận của ông Liêm với tổng số tiền là 440.000.000 đồng (Bà Lan đã liệt kê sau biên nhận ngày 09/7/2019).

Khi giao số tiền 440.000.000 đồng vào ngày 08/11/2019 (có giấy đặt cọc ngày 08/11/2019) vợ chồng bà Lan, ông Hùng và ông Liêm có thỏa thuận bằng miệng như sau:

Ông Liêm trực tiếp đến nhận nhà và ở vào ngày 08/11/2019 và quản lý các tài sản nằm trên khuôn viên nhà đất (Như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ), sau đó ông Hùng có cho ông Liêm xem giấy chứng nhận quyền sử dụng được UBND huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định cấp cho hộ ông Trịnh Quốc Hùng, bà Nguyễn Lan (số: CH01081 cấp ngày 05/4/2017) thì ông Liêm phát hiện ra diện tích nhà nước cấp sổ đỏ cho ông Hùng, bà Lan chỉ có 140m² và tài sản là ngôi nhà chưa gắn liền trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên ông Liêm yêu cầu ông Hùng, bà Lan phải làm thủ tục gắn căn nhà nêu trên vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác nhận của chính quyền địa phương về thực tế diện tích sử dụng đất không tranh chấp để sau này ông Liêm được sử dụng ổn định lâu dài. Tuy nhiên, ông Hùng và bà Lan đã làm hợp đồng đặt cọc vào ngày 10/10/2022 với ông Liêm với diện tích đất ở 140m², nhưng không có căn nhà gắn liền với Giấy nhận quyền sử dụng nêu trên.

Tiếp đó, ông Hùng có thỏa thuận với ông Liêm “Để anh đi gắn tài sản căn nhà trên đất trong vòng 10 ngày ra yêu cầu cho tôi thực hiện thanh toán số tiền còn lại 460.000.000 đồng sau khi hoàn tất hồ sơ thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất toàn bộ diện tích nhà đất nêu trên tại Làng K2, xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định theo như thỏa thuận tại giấy viết tay ban đầu”. Tuy nhiên, đến ngày 07/3/2023 gần 05 tháng vợ chồng ông Trịnh Quốc Hùng đã trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản phô tô trong đó diện tích xây dựng nhà 61m² diện tích đất 140m²; qua xem xét giấy chứng nhận được cấp mới (số GCN: CS02706 ngày 06/11/2022) thì diện tích nhà đất không đúng như thỏa thuận đã cam kết ban đầu (Giấy đặt cọc ngày 09/7/2019).

[3] Xét yêu cầu khởi kiện nguyên đơn về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và đòi lại tài sản”, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Từ ngày đặt cọc đến nay hai bên không tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng nhàđất được, với lý do: Giữa vợ chồng ông Hùng, bà Lan và ông Liêm có viết 03 giấy đặt cọc (01 giấy đề ngày 09/7/2019, 01 giấy đề ngày 08/11/2019, 01 giấy đề ngày 10/10/2022) và 02 Biên nhận giấy nhận tiền (01 giấy đề ngày 09/7/2019, 01 giấy đề ngày 08/11/2019):Nội dung giấy đặt cọc ngày 09/7/2019 nhằm mục đích chuyển nhượng thửa đất, nhà và các tài sản khác thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Hùng, bà Lan. Tuy nhiên, giấy đặt cọc không thể hiện rõ, thửa đất nào? Vị trí giới cận ra sao? Ngôi nhà có đặc điểm như thế nào? Đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao nhiêu m²? Ngôi nhà có được gắn liền với thửa đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không? Các tài sản khác có chủng loại, giá cả như thế nào?... sau khi ông Liêm giao số tiền đặt cọc 80.000.000 đồng. Ngoài ra, trong giấy đặt cọc trên có ghi “trước khi giao tiền còn lại và sang tên sổ đỏ để tôi đi vay tiền trả đủ cho bà Nguyễn Thị Lan”, như vậy, ban đầu các bên thống nhất ý chí với nhau rằng ông Liêm giao một phần tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước, vợ chồng ông Hùng, bà Lan thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Liêm, sau đó ông Liêm sẽ thế chấp các tài sản này để vay tiền rồi mới trả đủ cho ông Hùng, bà Lan. Đồng thời sau này, giữa ông Liêm và vợ chồng ông Hùng có xác định lại các nội dung như trên, ông Hùng có hứa với ông Liêm là sẽ liên hệ với cơ quan chức năng làm các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất toàn bộ diện tích đất mà vợ chồng ông Hùng đang sử dụng ổn định lâu dài. Ông Liêm tiếp tục giao cho vợ chồng ông Hùng, bà Lan số tiền 360.000.000 đồng để đi làm các thủ tục có liên quan như đã thỏa thuận.

Tại biên bản đối chất ngày 16/4/2024 và tại phiên tòa, ông Hùng và ông Liêm thống nhất đề nghị Tòa án xem xét hiệu lực của Hợp đồng đặt cọc đề ngày 10/10/2022 (Bản ông Liêm lưu giữ). Điều 1 hợp đồng ghi “Đối tượng của Hợp đồng là số tiền 440.000.000 đồng... mà bên A đặt cọc cho bên B để được nhận chuyển nhượng thửa đất số 52, tờ bản đồ số 25 tại địa chỉ Làng K2 xã Vĩnh Sơn huyện Vĩnh Thạnh tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nông thôn số CD866877; số vào sổ cấp GCN số... (bỏ trống không ghi)...”. Điều 2 hợp đồng ghi “Điều 2: Thời hạn đặt cọc và giá chuyển nhượng”, tại mục 2.1 của Điều 2 tuy không ghi thời hạn đặt cọc nhưng cuối hợp đồng có đoạn chữ viết tay của ông Hùng ghi “Số tiền còn lại 460.000.000 đồng ông Liêm giao đủ cho tôi, tôi sẽ ủy quyền và giao QSDĐ cho ông Liêm. Trong vòng 10 ngày làm việc tính từ ngày ký, nếu ông Liêm không thanh toán được số tiền trên (460.000.000) thì hợp đồng chuyển nhượng đất sẽ...”. Ngày các bên ký kết hợp đồng là ngày 10/10/2022 (lúc này giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có nhà và các tài sản trên đất, ngoài ra, số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi trong hợp đồng cũng ghi sai so với số được chính quyền cấp – là số CH01081 cấp ngày 05/4/2017 chứ không phải số CD866877), mãi đến 06/12/2022, vợ chồng ông Hùng, bà Lan mới được chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ517197, đến ngày 07/3/2023 vợ chồng ông Hùng, bà Lan trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản phô tô trong đó diện tích xây dựng nhà 61m² diện tích đất 140m²; qua xem xét giấy chứng nhận được cấp mới thì ông Liêm phát hiện ra diện tích nhà đất không đúng với như thỏa thuận đã cam kết ban đầu (Giấy đặt cọc ngày 09/7/2019). Vì thế giao dịch trên không thực hiện được là do lỗi hoàn toàn thuộc về vợ chồng ông Hùng, bà Lan.

Qua đó, việc ông Liêm không cùng vợ chồng ông Hùng, bà Lan đến UBND xã Vĩnh Sơn để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất là có căn cứ. Bởi lẽ, việc gấy đặt cọc số tiền 80 triệu đồng vào ngày 09/7/2019 tự ông Liêm viết và vợ chồng ông Hùng ký xác nhận là chưa thể hiện rõ các nội dung như đã nêu trên nên dẫn đến giao dịch không thực hiện được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn quy định tại Điều 126 của Bộ luật dân sự năm 2015. Nên yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận. Vì vậy 03 giấy đặt cọc (01 giấy đề ngày 09/7/2019, 01 giấy đề ngày 08/11/2019, 01 giấy đề ngày 10/10/2022) kèm theo 02 Biên nhận giấy nhận tiền (01 giấy đề ngày 09/7/2019, 01 giấy đề ngày 08/11/2019) đều bị vô hiệu nên các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 131 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[4] Xét yêu cầu ông Liêm trả lại nguyên hiện trạng các tài sản cho vợ chồng ông Hùng theo biên bản định giá và xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/11/2023, thì thấy các tài sản này được hình thành trước khi vợ chồng ông Hùng giao nhà cho ông Liêm vào năm 2019 nên các tài sản trên vẫn còn thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Hùng nên yêu cầu này là có căn cứ, cần chấp nhận.

[5] Xét yêu cầu của bị đơn Lê Thanh Liêm mong muốn được tiếp tục thực hiện hợp đồng và yêu cầu vợ chồng ông Hùng, bà Lan gắn tất cả các tài sản trên thửa đất số 52, tờ bản đồ số 25, diện tích 140m², ở thôn K2, xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định gồm các nhà karaoke và các tài sản còn lại đủ trong diện tích 140m² là không có căn cứ, bởi lẽ giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn quy định tại Điều 126 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên buộc vợ chồng ông Hùng, bà Lan phải hoàn trả số tiền 440.000.000 đồng cho ông Liêm.

[6] Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành trưng cầu các cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành định giá và xem xét thẩm định tại chỗ các tài sản theo yêu cầu của nguyên đơn hiện bị đơn đang quản lý và sử dụng có hiện trạng cụ thể như sau:

[6.1] Quyền sử dụng đất

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS02706, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định cấp ngày 06/12/2022; thửa đất số 52, tờ bản đồ số 25, diện tích 140m², mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn.

Ngoài ra, phần diện tích đất ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang được hộ gia đình sử dụng lâu dài, không có tranh chấp có diện tích khoảng hơn 1.000m².

Giá trị quyền sử dụng đất của thửa đất số 52, tờ bản đồ số 25, diện tích 140m², đất ở nông thôn có kèm theo đất ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khoảng hơn 1.000m² được hộ gia đình sử dụng lâu dài, không có tranh chấp là: 500.000.000 đồng.

[6.2] Tài sản gắn liền với thửa đất số 52.

  • + Nhà cấp N9, tường xây gạch, không trát, nền lát vữa xi măng, không trần, mái ngói, chiều cao trung bình >3 x 1,1m, giá trị còn lại: 5,08 x 13,3 = 67,56m² x 1.646.000 đồng = 111.203.760.000 đồng x 1,1 = 122.324.000 đồng; Mái ngói: 67,56 x 493.000 đồng/m² = 33.307.000 đồng.
  • Đánh giá giá trị còn lại 60%: (122.324.000 đồng + 33.307.000 đồng) x 60% = 93.216.730 đồng.
  • + Nhà bếp mã hiệu N9 đánh giá giá trị còn lại 60%: 4,4 x 6,5 = 28,6 x 1.646.000 đồng = 47.075.000 đồng x 60% = 28.245.360 đồng.
  • + Nhà sàn mã hiệu N11 (bên cạnh) đánh giá giá trị còn lại 80%: 10,1 x 3 = 30,3 x 2.533.000 đồng = 76.749.900 đồng x 80% = 61.399.920 đồng.
  • + Tráp tôn trước nhà đánh giá giá trị còn lại 80%: (2,5 x 3) + (5,08 x 3) = 22,74m² x 780.000 đồng/m² = 17.737.200 đồng x 80% = 14.189.760 đồng.
  • + Phòng karaoke (không sử dụng, xây dựng đã lâu) mã hiệu N7, đánh giá giá trị còn lại 60%: 4 x 6 = 24m² x 2.675.000 đồng = 64.200.000 đồng x 60% = 38.520.000 đồng.
  • Tổng trị giá các tài sản gắn liền với thửa đất số 52: 93.216.730 đồng + 28.245.360 đồng + 61.399.920 đồng + 14.189.760 đồng + 38.520.000 đồng = 235.571.770 đồng. Làm tròn: 235.571.000 đồng.

[6.3] Các tài sản khác:

  • - Máy xay bột nước (không có động cơ mô tơ, đã cũ, rỉ sét, thủng) trị giá: 300.000 đồng
  • - 03 Camera đã hư hỏng: 0 đồng
  • - 01 cái Giường rộng 1,6m, dài 02m, thành (18x3)cm, gỗ giổi, trị giá: 1.500.000 đồng
  • - 01 máy rửa ảnh Camonseliphy, trị giá: 200.000 đồng
  • - 01 máy ảnh Nikon D3400, trị giá: 2.000.000 đồng.
  • - 01 máy ép nhựa FGK 320, trị giá: 300.000 đồng.
  • - Các tài sản có trong phòng karaoke số 01 gồm: 02 loa SVS; 01 bộ micro Shure UGX9; 01 âm ly Guinness Spa-360; 01 đầu DVD karaoke Arirang: 3.000.000 đồng.
  • - Các tài sản có trong phòng karoke số 02 gồm: 04 loa Taman (02 lớn; 02 02 nhỏ); 01 tivi Asanzo 45 inch; 01 tivi Asanzo 50 inch; 01 âm ly California Pro 183; 01 bộ micro Maigo Ma W1000; 01 đầu karaoke smat Arirang: 9.000.000 đồng.
  • - 01 máy tiện gỗ + mô tơ 2,21 kw: 3.000.000 đồng.
  • - 01 máy bơm nước: 200.000 đồng.
  • - 01 vườn cây bù lời trồng từ năm 2005 và khoảng 6 cây Xoan: Không có tại thời điểm định giá.
  • Tổng giá trị tài sản khác: 19.500.000 đồng.

[6.4] Tổng giá trị các tài sản nêu trên là 755.071.000 đồng(Bảy trăm năm mươi lăm triệu, không trăm bảy mươi mốt nghìn đồng), cụ thể như sau: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS02706, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định cấp ngày 06/12/2022; thửa đất số 52, tờ bản đồ số 25, diện tích 140m², mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn có kèm theo đất ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khoảng hơn 1.000m² được hộ gia đình sử dụng lâu dài, không có tranh chấp có trị giá là 500.000.000 đồng; Tài sản gắn liền với đất: 01 phòng bán tạp hóa, 02 phòng karaoke, 01 phòng bếp, 01 nhà sàn, 01 tráp tôn có trị giá là 235.571.000đồng; Tài sản khác (có tại thời điểm định giá) bao gồm: 01 máy xay bột nước, 03 camera, 01 cái giường, 01 máy rửa ảnh, 01 máy ảnh, 01 máy ép nhựa, 02 dàn karaoke,01 máy bơm, 01 máy tiện gỗ có tổng giá trị là 19.500.000 đồng. Tòa án đã tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không thành.

[7] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử có cơ sở:

[7.1] Tuyên bố 03 giấy đặt cọc (01 giấy đề ngày 09/7/2019, 01 giấy đề ngày 08/11/2019, 01 giấy đề ngày 10/10/2022) kèm theo 02 Biên nhận giấy nhận tiền (01 giấy đề ngày 09/7/2019, 01 giấy đề ngày 08/11/2019) đều bị vô hiệu.

[7.2] Buộc bị đơn Lê Thanh Liêm giao trả lại các tài sản cho vợ chồng ông Trịnh Quốc Hùng và bà Nguyễn Thị Lan gồm:

  • - Nhà cấp N9, tường xây gạch, không trát, nền lát vữa xi măng, không trần, mái ngói, chiều cao trung bình >3 x 1,1m, giá trị còn lại: 5,08 x 13,3 = 67,56m² x 1.646.000 đồng = 111.203.760.000 đồng x 1,1 = 122.324.000 đồng; Mái ngói: 67,56 x 493.000 đồng/m² = 33.307.000 đồng. Đánh giá giá trị còn lại 60%: (122.324.000 đồng + 33.307.000 đồng) x 60% = 93.216.730 đồng.
  • - Nhà bếp mã hiệu N9 đánh giá giá trị còn lại 60%: 4,4 x 6,5 = 28,6 x 1.646.000đồng = 47.075.000 đồng x 60% = 28.245.360 đồng.
  • - Nhà sàn mã hiệu N11 (bên cạnh) đánh giá giá trị còn lại 80%: 10,1 x 3 = 30,3 x 2.533.000 đồng = 76.749.900 đồng x 80% = 61.399.920 đồng.
  • - Tráp tôn trước nhà đánh giá giá trị còn lại 80%: (2,5 x 3) + (5,08 x 3) = 22,74m² x 780.000 đồng/m² = 17.737.200 đồng x 80% = 14.189.760 đồng.
  • - Phòng karaoke (không sử dụng, xây dựng đã lâu) mã hiệu N7, đánh giá giá trị còn lại 60%: 4 x 6 = 24m2 x 2.675.000 đồng = 64.200.000 đồng x 60% = 38.520.000 đồng.
  • - Máy xay bột nước (không có động cơ mô tơ, đã cũ, rỉ sét, thủng) trị giá: 300.000 đồng.
  • - 03 Camera đã hư hỏng: 0 đồng.
  • - 01 cái Giường rộng 1,6m, dài 02m, thành (18x3)cm, gỗ giổi, trị giá: 1.500.000 đồng.
  • - 01 máy rửa ảnh Camonseliphy, trị giá: 200.000 đồng.
  • - 01 máy ảnh Nikon D3400, trị giá: 2.000.000 đồng.
  • - 01 máy ép nhựa FGK 320, trị giá: 300.000 đồng.
  • - Các tài sản có trong phòng karaoke số 01 gồm: 02 loa SVS; 01 bộ micro Shure UGX9; 01 âm ly Guinness Spa-360; 01 đầu DVD karaoke Arirang: 3.000.000 đồng.
  • - Các tài sản có trong phòng karoke số 02 gồm: 04 loa Taman (02 lớn; 02 02 nhỏ); 01 tivi Asanzo 45 inch; 01 tivi Asanzo 50 inch; 01 âm ly California Pro 183; 01 bộ micro Maigo Ma W1000; 01 đầu karaoke smat Arirang: 9.000.000 đồng.
  • - 01 máy tiện gỗ + mô tơ 2,21 kw: 3.000.000 đồng.
  • - 01 máy bơm nước: 200.000 đồng.

[7.3] Buộc vợ chồng ông Trịnh Quốc Hùng, bà Nguyễn Thị Lan phải hoàn trả số tiền 440.000.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng) cho ông Lê Thanh Liêm.

[7.4] Quyền và nghĩa vụ đối ứng của các bên: Buộc vợ chồng ông Hùng và bà Lan phải giao đủ số tiền 440.000.000 đồng cho ông Liêm thì ông Liêm mới có nghĩa vụ giao căn nhà và số tài sản được liệt kê như trên cho vợ chồng ông Hùng, bà Lan quản lý và sử dụng.

[7.5] Bác yêu cầu của vợ chồng ông Trịnh Quốc Hùng và bà Nguyễn Thị Lan về việc không đồng ý trả lại số tiền 440.000.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng) cho ông Lê Thanh Liêm.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án thì nguyên đơn ông Trịnh Quốc Hùng phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch sung ngân sách Nhà nước, ông Hùng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 11.100.000 đồng (Mười một triệu, một trăm nghìn đồng), số tiền còn lại 10.800.0000 đồng (11.100.000 đồng – 300.000 đồng) được trả lại cho ông Hùng theo biên lại tạm ứng án phí số 0006579 ngày 23/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.

[9] Về chi phí tố tụng khác: Theo quy định tại khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn ông Trịnh Quốc Hùng phải chịu 4.000.000 đồng chi phí định giá tài sản và xem xét, thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng xong 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 122, 126, 131, 132, 328, 500, 501, 502 và 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 175; khoản 1 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 188 của Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ vào khoản 3Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên xử:

1. Tuyên bố 03 giấy đặt cọc (01 giấy đề ngày 09/7/2019, 01 giấy đề ngày 08/11/2019, 01 giấy đề ngày 10/10/2022) kèm theo 02 Biên nhận giấy nhận tiền (01 giấy đề ngày 09/7/2019, 01 giấy đề ngày 08/11/2019) đều bị vô hiệu.

2. Buộc bị đơn Lê Thanh Liêm giao trả lại các tài sản cho vợ chồng ông Trịnh Quốc Hùng và bà Nguyễn Thị Lan gồm:

  • - Nhà cấp N9, tường xây gạch, không trát, nền lát vữa xi măng, không trần, mái ngói, chiều cao trung bình >3 x 1,1m, giá trị còn lại: 5,08 x 13,3 = 67,56m² x 1.646.000 đồng = 111.203.760.000 đồng x 1,1 = 122.324.000 đồng; Mái ngói: 67,56 x 493.000 đồng/m² = 33.307.000 đồng. Đánh giá giá trị còn lại 60%: (122.324.000 đồng + 33.307.000 đồng) x 60% = 93.216.730 đồng.
  • - Nhà bếp mã hiệu N9 đánh giá giá trị còn lại 60%: 4,4 x 6,5 = 28,6 x 1.646.000đồng = 47.075.000 đồng x 60% = 28.245.360 đồng.
  • - Nhà sàn mã hiệu N11 (bên cạnh) đánh giá giá trị còn lại 80%: 10,1 x 3 = 30,3 x 2.533.000 đồng = 76.749.900 đồng x 80% = 61.399.920 đồng.
  • - Tráp tôn trước nhà đánh giá giá trị còn lại 80%: (2,5 x 3) + (5,08 x 3) = 22,74m² x 780.000 đồng/m² = 17.737.200 đồng x 80% = 14.189.760 đồng.
  • - Phòng karaoke (không sử dụng, xây dựng đã lâu) mã hiệu N7, đánh giá giá trị còn lại 60%: 4 x 6 = 24m2 x 2.675.000 đồng = 64.200.000 đồng x 60% = 38.520.000 đồng.
  • - Máy xay bột nước (không có động cơ mô tơ, đã cũ, rỉ sét, thủng) trị giá: 300.000 đồng.
  • - 03 Camera đã hư hỏng: 0 đồng.
  • - 01 cái Giường rộng 1,6m, dài 02m, thành (18x3)cm, gỗ giổi, trị giá: 1.500.000 đồng.
  • - 01 máy rửa ảnh Camonseliphy, trị giá: 200.000 đồng.
  • - 01 máy ảnh Nikon D3400, trị giá: 2.000.000 đồng.
  • - 01 máy ép nhựa FGK 320, trị giá: 300.000 đồng.
  • - Các tài sản có trong phòng karaoke số 01 gồm: 02 loa SVS; 01 bộ micro Shure UGX9; 01 âm ly Guinness Spa-360; 01 đầu DVD karaoke Arirang: 3.000.000 đồng.
  • - Các tài sản có trong phòng karoke số 02 gồm: 04 loa Taman (02 lớn; 02 02 nhỏ); 01 tivi Asanzo 45 inch; 01 tivi Asanzo 50 inch; 01 âm ly California Pro 183; 01 bộ micro Maigo Ma W1000; 01 đầu karaoke smat Arirang: 9.000.000 đồng.
  • - 01 máy tiện gỗ + mô tơ 2,21 kw: 3.000.000 đồng.
  • - 01 máy bơm nước: 200.000 đồng.

3. Buộc vợ chồng ông Trịnh Quốc Hùng, bà Nguyễn Thị Lan phải hoàn trả số tiền 440.000.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng) cho ông Lê Thanh Liêm.

4. Quyền và nghĩa vụ đối ứng của các bên: Buộc vợ chồng ông Hùng và bà Lan phải giao đủ số tiền 440.000.000 đồng cho ông Liêm thì ông Liêm mới có nghĩa vụ giao căn nhà và số tài sản được liệt kê như trên cho vợ chồng ông Hùng, bà Lan quản lý và sử dụng.

5. Bác yêu cầu của vợ chồng ông Trịnh Quốc Hùng và bà Nguyễn Thị Lan về việc không đồng ý trả lại số tiền 440.000.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng) cho ông Lê Thanh Liêm.

6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Trịnh Quốc Hùng phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch sung ngân sách Nhà nước, ông Hùng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 11.100.000 đồng (Mười một triệu, một trăm nghìn đồng), số tiền còn lại 10.800.0000 đồng được trả lại cho ông Hùng theo biên lại tạm ứng án phí số 0006579 ngày 23/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.

7. Về chi phí tố tụng khác: Nguyên đơn ông Trịnh Quốc Hùng phải chịu 4.000.000 đồng chi phí định giá tài sản và xem xét, thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng xong 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

8. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

8.2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

8.3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

9. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/DS-PT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 32/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, giữa nguyên đơn Trịnh Quốc Hùng - bị đơn Nguyễn Thanh Liêm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger