|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày: 21-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Hiệp
Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hải Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 248/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 274/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Hồng S (tên gọi khác: Nguyễn Đức P), sinh ngày 05 tháng 10 năm 2003 tại tỉnh Thanh Hóa. Căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thanh N và bà Nguyễn Thị N1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/02/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên); bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/11/2023 cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Anh Hoàng Minh T, sinh năm 1988; nơi cư trú: Khu phố E, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Công ty T3; trụ sở: Tầng I, 10, 11, 12 Tòa nhà M, số B C, phường C, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Văn Y – Chuyên viên điều tra của Công ty T3 là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 13/02/2025); có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/11/2023, Bùi Hồng S đi xe môtô Vario màu đen, không có biển số, số khung PK143640, số máy E1143634 đến phường H, thành phố B để ăn, uống với người bạn tên T1. Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 27/11/2023, do không có xe, nên T1 nhờ S chở T1 đi về.
Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 27/11/2023, khi S chở T1 đi đến đường L, thuộc Khu phố B, phường H, thành phố T, S và T1 nhìn thấy anh Hoàng Minh T đi xe môtô cùng chiều, trên tay cầm điện thoại Iphone 11 Pro F, S và T1 rủ nhau giật điện thoại của anh T; thực hiện ý định, S cho xe vượt lên áp sát vào xe của anh T, T1 liền giật điện thoại rồi S tăng ga chạy đi; anh T truy hô thì gặp lực lượng Công an đang tuần tra, anh T thông báo bị giật điện thoại, lực lượng Công an liền truy đuổi theo S và T1; do không làm chủ tốc độ, S và T1 bị ngã xe, T1 và S liền bỏ lại xe môtô chạy bộ thoát. Đến ngày 29/11/2023, S đến Công an thành phố T đầu thú.
Tại Kết luận định giá tài sản số 526/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, màu vàng, dung lượng 64Gb trị giá 7.000.000 đồng.
Ngày 01/10/2024, bà Nguyễn Thị N1 (mẹ ruột S) bồi thường cho anh Hoàng Minh T 7.000.000 đồng. Anh T không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho S.
Quá trình điều tra xác định: Xe môtô Honda Vario, không có biển số, số khung PK143640, số máy E1143634 do Bùi Hồng S vay tiền của Công ty T3 (viết tắt là Công ty T3) để mua, nhưng không thế chấp xe để bảo đảm cho khoản vay và xe chưa được cấp biển số. Công ty T3 đề nghị phát mãi xe của mộtô của S để thu hồi nợ. Đối với người tên T1, quá trình điều tra, chưa xác định được nhân thân, lai lịch.
Vật chứng chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một: Xe môtô hiệu Honda Vario màu đen, không có biển số, số khung PK143640, số máy E1143634.
Tại Cáo trạng số 245/CT-VKSTDM-HS ngày 07/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố bị cáo Bùi Hồng S để xét xử về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Hồng S từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù; về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước xe môtô đã thu giữ của bị cáo.
Tại phần tranh luận, bị cáo, bà Nguyễn Thị N1 và ông Phạm Văn Y không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Hồng S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, vật chứng của vụ án và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định: Ngày 27/11/2023, Bùi Hồng S cùng người tên T1 đã có hành vi sử dụng xe môtô hiệu Honda Vario màu đen, không có biển số, số khung PK143640, số máy E1143634 cướp giật chiếc điện thoại Iphone 11 Pro, màu vàng, trị giá 7.000.000 đồng của anh Hoàng Minh T. Như vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Bùi Hồng S về tội “Cướp giật tài sản”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo biết việc cướp giật tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích cá nhân và ý thức chấp hành pháp luật kém, nên bị cáo đã thực hiện; do đó, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phải có mức hình phạt tương xứng, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và sau khi phạm tôi, bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là rất nghiêm trọng; nên đề nghị của Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là tương xứng, đúng pháp luật.
[7] Đối với người tên T1, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị N1 (mẹ bị cáo) đã bồi thường xong cho bị hại, nên không đặt ra xem xét.
[9] Về vật chứng của vụ án: Do bị cáo sử dụng xe môtô của bị cáo làm phương tiện phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với ý kiến của Công ty T3 đề nghị được phát mãi xe mộtô của bị cáo để thu hồi nợ là không đúng pháp luật, vì xe không phải là tài sản bảo đảm, nên không được chấp nhận.
[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 260, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Hồng S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Bùi Hồng S 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2023.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
T2 tịch thu sung vào ngân sách nhà nước xe môtô đã qua sử dụng nhãn hiệu Vario, màu đen, không có biển số và kính chiếu hậu, số khung: PK143640, số máy: E1143634 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 005.25 ngày 04/10/2024, giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Bùi Hồng S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trường |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
