TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày: 21-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Loan
Bà Nguyễn Thị Kim Chung
Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Kiên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị T, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1996 tại: Tỉnh Hà Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn C xã T, huyện K (nay là phường T, thị xã K), tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Số A Q, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Đinh Thị Y; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; có chồng là Tạ Thế M (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-12-2024, sau đó chuyển tạm từ ngày 05-01-2025; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- - Anh Trần Duy M1.
- - Anh Nguyễn Đức T1.
- - Chị Nguyễn Thị Hồng H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 26/12/2024, Nguyễn Đức T1, sinh năm 1988, trú tại: Thôn D, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội và Trần Duy M1, sinh năm 1989; trú tại: Số A T, phường N, thành phố N ngồi ăn uống rồi rủ nhau góp tiền tìm gái bán dâm để mua dâm. Nguyễn Đức T1 biết Lê Thị T là gái bán dâm và có thể gọi được gái bán dâm khác nên đã sử dụng tài khoản Zalo của mình là “Ông Lão Đẹp T2” nhắn tin tới tài khoản Zalo của T có tên là “Cô Độc” đặt vấn đề mua dâm với Lê Thị T và bảo Lê Thị T tìm thêm 01 gái bán dâm để bán dâm cho Trần Duy M1. Lê Thị T đồng ý, thống nhất với Nguyễn Đức T1 giá tiền một lần bán dâm của Lê Thị T là 5.000.000 đồng và giá tiền một lần bán dâm của gái bán dâm mà Lê Thị T gọi đến là 4.000.000 đồng. Sau đó, Lê Thị T sử dụng tài khoản Zalo của mình liên hệ với tài khoản Z có tên là “Bé Anh N” của Nguyễn Thị Hồng H1 sinh năm 2000, trú tại xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc để rủ Nguyễn Thị Hồng H1 đi bán dâm. Nguyễn Thị Hồng H1 đồng ý và thống nhất với Lê Thị T giá tiền một lần bán dâm của Nguyễn Thị Hồng H1 là 4.000.000 đồng. Thỏa thuận xong với Nguyễn Thị Hồng H1, Lê Thị T thông báo cho Nguyễn Đức T1 biết đã tìm được gái bán dâm cho Trần Duy M1 và yêu cầu Nguyễn Đức T1 thanh toán trước tiền bán dâm của Lê Thị T và Nguyễn Thị Hồng H1. Nguyễn Đức T1 nhất trí và trả trước cho Lê Thị T số tiền 5.000.000 đồng bằng hình thức chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng T4 số 19037378059013 của Nguyễn Đức T1 vào tài khoản ngân hàng B số 15910000425371 của Lê Thị T và thỏa thuận khi nào Lê Thị T và Nguyễn Thị Hồng H1 đến thành phố N thì Nguyễn Đức T1 sẽ trả nốt số tiền còn lại 4.000.000 đồng. Nguyễn Đức T1 thuê phòng 406, Trần Duy M1 thuê phòng 405 Nhà nghỉ S ở địa chỉ: Số E N, phường L, thành phố N và hẹn Lê Thị T, Nguyễn Thị Hồng H1 đến mua bán dâm. Sau khi nhận được tiền của Nguyễn Đức T1, Lê Thị T đã chuyển vào tài khoản ngân hàng V của Nguyễn Thị Hồng H1 số tiền 3.000.000 đồng để trả trước tiền bán dâm cho Nguyễn Thị Hồng H1 và thỏa thuận khi nào bán dâm xong thì Lê Thị T sẽ trả nốt 1.000.000 đồng.
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/12/2024, Lê Thị T cùng Nguyễn Thị Hồng H1 đi taxi đến thành phố N, gặp Nguyễn Đức T1 và Trần Duy M1. Cả bốn người đi ăn với nhau. Trong lúc ăn, Nguyễn Đức T1 và Trần Duy M1 trả nốt cho Lê Thị T số tiền 4.000.000 đồng theo thỏa thuận và trả thêm cho Lê Thị T 500.000 đồng là tiền công môi giới. Lê Thị T nhận số tiền 4.500.000 đồng và bảo Nguyễn Thị Hồng H1 bán dâm cho Trần Duy M1, còn Lê Thị T sẽ bán dâm cho Nguyễn Đức T1. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Duy M1 và Nguyễn Thị Hồng H1 đến nhà nghỉ S gặp lễ tân là chị Đinh Thị Hồng T3, lấy chìa khóa lên phòng 405. Khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, Nguyễn Đức T1 và Lê Thị T đến gặp chị Đinh Thị Hồng T3 lấy chìa khóa lên phòng 406. Đến 18 giờ 45 phút cùng ngày, tổ công tác của Công an thành phố N kiểm tra hành chính nhà nghỉ S đã phát hiện, bắt quả tang ở phòng D T và Nguyễn Thị Hồng H1 đang thực hiện mua bán dâm, thu giữ được một vỏ bao cao su đã qua sử dụng; ở phòng 406 N và Lê Thị T đang thực hiện mua bán dâm, thu giữ một vỏ bao cao su đã qua sử dụng; thu giữ của Lê Thị T số tiền 4.500.000 đồng (trong đó có 4.000.000 đồng là tiền mua dâm mà Nguyễn Đức T1, Trần Duy M1 thanh toán cho Lê Thị T; 500.000 đồng tiền công môi giới mà Nguyễn Đức T1, Trần Duy M1 trả cho Lê Thị T) và 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 màu đen (là phương tiện mà Lê Thị T đã sử dụng để liên lạc với Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Thị Hồng H1).
Tại Cơ quan điều tra, Lê Thị T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, đồng thời tự nguyện rút từ tài khoản ngân hàng của mình số tiền 2.000.000 đồng (là tiền bán dâm trong khoản tiền 5.000.000 đồng mà Nguyễn Đức T1 đã chuyển khoản thanh toán trước cho Lê Thị T) để giao nộp cho cơ quan điều tra.
Nguyễn Thị Hồng H1 đã tự nguyện rút từ tài khoản ngân hàng của mình số tiền 3.000.000 đồng (là tiền bán dâm của Nguyễn Thị Hồng H1 mà Lê Thị T đã chuyển khoản thanh toán trước cho Nguyễn Thị Hồng H1) và giao nộp cho cơ quan điều tra.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N phục hồi, trích xuất dữ liệu điện tử trong chiếc điện thoại di động thu giữ của Lê Thị T. Kết luận giám định số 297/KL-KTHS ngày 16/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Trích xuất được 1697 tin nhắn văn bản SMS và 589 tin nhắn Zalo. Không xác định được dữ liệu có liên quan đến hành vi môi giới mại dâm giữa Lê Thị T, Nguyễn Thị Hồng H1, Nguyễn Đức T1 và các đối tượng khác (nếu có) ttrong mẫu cần giám định.
Đối với các vật chứng thu giữ, gồm: 02 (hai) vỏ bao cao su đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đen và số tiền 9.500.000 đồng được bảo quản và chuyển giao theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 40/CT-VKS-TPNĐ ngày 23-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Lê Thị T về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Lê Thị T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm tội “Môi giới mại dâm”.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị T từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định pháp luật. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01(một) điện thoại di động Iphone 11 màu đen tại phong bì niêm phong số PS3A 071204. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng) đã chuyển theo ủy nhiệm chi số 04 ngày 10-02-2025. Tiêu hủy 02 vỏ bao cao su trong các túi niêm phong mã số NS4 23078255 và NS4 23078256.
Bị cáo Lê Thị T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; các biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử ngày 26-12-2024; bản kết luận giám định số 297/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N; sơ đồ hiện trường; lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 26/12/2024, Lê Thị T đã làm trung gian môi giới, dẫn dắt để Nguyễn Thị Hồng H1 bán dâm cho Trần Duy M1 tại phòng 405 nhà nghỉ S ở địa chỉ: Số E N, phường L, thành phố N và được hưởng 500.000 đồng tiền công môi giới.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rất rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo Lê Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ thực hiện tội phạm: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến trật tự công cộng, xâm phạm đến đạo đức, thuần phong mỹ tục, đời sống văn hóa, nếp sống văn minh và sức khoẻ con người. Mại dâm là một tệ nạn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm lan truyền các căn bệnh xã hội. Do vậy, Đảng và Nhà nước ta đã và đang vận động, tuyên truyền giáo dục nhân dân nhanh chóng đẩy lùi tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội. Vì vậy, cần phải có biện pháp xử lý tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về mức hình phạt: Đối với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tại phiên tòa về áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Tòa án. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Lê Thị T không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với các túi niêm phong mã số NS4 23078255 và NS4 23078256 chứa vỏ bao cao su đã qua sử dụng là vật chứng trong vụ án, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên sẽ tiêu hủy.
Đối với 01 túi niêm phong mã số PS3A 071204, bên trong có 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu đen của bị cáo Lê Thị T, là phương tiện, công cụ để thực hiện hành vi phạm tội nên sẽ tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 9.500.000 đồng là tiền thu lợi bất chính nên sẽ tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[8] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với hành vi mua dâm của Nguyễn Đức T1, Trần Duy M1, Công an thành phố N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền là đúng quy định pháp luật.
Đối với hành vi bán dâm của Nguyễn Thị Hồng H1 và Lê Thị T, Công an thành phố N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đúng quy định pháp luật.
Chị Đinh Thị Hồng T3, sinh năm 2002, trú tại xã K, huyện T, tỉnh Quảng Bình là nhân viên lễ tân được chủ nhà nghỉ S giao quyền quản lý và trông coi nhà nghỉ nhưng đã không thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý an ninh, trật tự đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện nên Công an thành phố N đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đúng quy định pháp luật.
Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1958, trú tại tổ dân phố C, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định là chủ nhà nghỉ S không liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Thị T nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng quy định pháp luật.
[9] Về án phí:
Bị cáo Lê Thị T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm tội “Môi giới mại dâm”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01(một) điện thoại di động Iphone 11 màu đen tại phong bì niêm phong số PS3A 071204.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng) đã chuyển theo ủy nhiệm chi số 04 ngày 10-02-2025.
- - Tiêu hủy 02 vỏ bao cao su trong các túi niêm phong mã số NS4 23078255 và NS4 23078256.
- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Thị T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Lê Thị T 01 năm 06 tháng (Một năm sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2024.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/02/2025).
Bị cáo Lê Thị T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Lê Thị T có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tống Thị Kim Phượng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về môi giới mại dâm
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị T - MGMD
