Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/DSPT

Ngày: 20/02/2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Giang.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Quý Sửu và bà Nguyễn Thị Thuỷ.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Đỗ Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 241/2024/TLPT - DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 102/2024/DSST ngày 23 tháng 09 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 297/QĐPT-DS ngày 31 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn U, sinh năm 1958; HKTT: Số C, ngách A L, tổ A, phường M, quận H, thành phố Hà Nội.
  2. Chỗ ở hiện nay: Số C, đường M, tổ G, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

  3. Bị đơn:
    • Ông Ngô Văn T, sinh năm 1961, (Có mặt)
    • Bà Lê Thị T1, sinh năm 1966, (Có mặt)

    Địa chỉ: Tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Ngô Văn T: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985 – Tư vấn viên Trung tâm T5 (Viện khoa học và C1); Địa chỉ: Số nhà F, ngõ A, đường T, quận C, TP .), (Có mặt)

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Ông Lê Thành C, sinh năm 1972, (Có mặt)
    • Bà Lưu Thị Thanh M, sinh năm 1979, (Có mặt)

    Địa chỉ: Tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Văn U trình bày:

Năm 1983 ông U nhận chuyển nhượng đất của người khác, sử dụng ổn định. Năm 1997 ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 464, tờ bản đồ 14 phường T, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất số L 906776 do UBND tỉnh T cấp ngày 08/12/1997 với diện tích là 1.415m², gồm 300m² đất ở và 1115m² đất vườn tạp. Trong quá trình sử dụng, gia đình ông có khai phá thêm được khoảng 1.000m² và sử dụng ổn định nhưng chưa được cấp GCNQSD đối với phần khai phá thêm vì lý do khi làm thủ tục cấp bổ sung thì địa phương thông báo khu đất đang trong diện quy hoạch xây dựng dự án T phía nam thành phố nên không làm thủ tục cấp đất cho người dân được. Năm 1998, ông chuyển đến nơi khác ở, do vậy ông giao toàn bộ khu đất của mình cho người em họ là ông Lê Thành C ở để quản lý, sử dụng và trông coi, không có tranh chấp gì với ai. Năm 2019, sau khi ông nghỉ hưu, được các gia đình trong diện giải tỏa cho biết chính quyền không thực hiện dự án xây dựng tiểu khu công nghiệp nữa và cho phép người dân được xây dựng cải tạo công trình, gia đình ông có nhu cầu cải tạo, xây dựng tường bao quanh khu đất của gia đình và chia tách một phần đất vợ chồng ông C thì gia đình ông T tranh chấp về ranh giới, ông T cho rằng đất nhà mình còn thiếu sơ với GCNQSD đất nên ranh giới nằm trên phần đất của gia đình ông. Ông đã nhiều lần trao đổi theo hướng thống nhất ranh giới, thậm chí ông chấp nhận chịu thiệt lùi vào một phần để hai gia đình xác định mốc giới sử dụng nhưng gia đình ông T không hợp tác. Gia đình ông T được xem bìa đỏ của gia đình ông và sau khi thấy bìa đỏ của ông có diện tích nhỏ so với thực tế (vì ông còn một phần chưa được cấp GCNQSD), trong khi bìa đỏ nhà ông T lại có diện tích nhiều hơn diện tích ngoài hiện trạng nên ông T nảy sinh ý định tranh chấp, lấn chiếm, cho rằng đất nhà ông T bị thiếu, còn đất của nhà ông thừa là do nhà ông lấn sang. Điều này là không có căn cứ vì thực ra giữa hai bên gia đình đã sử dụng đúng phạm vi ranh giới đất trong khuôn viên của mình mấy chục năm qua, ông đến ở trước nhà ông T (gia đình ông ở từ năm 1983), năm 1994 gia đình ông T mới về ở), phần diện tích tăng thêm của ông là do ông chưa được cấp bìa đỏ chứ không phải ông lấn sang đất nhà ông T. Ông đã làm đơn đề nghị UBND phường T giải quyết tranh chấp nhưng không thành.

Trong thời gian đang có tranh chấp, gia đình ông T đã tiến hành đóng cọc chăng dây, dựng tấm Proximăng, đổ đất lấn chiếm sang thửa đất 464 của ông ở vị trí giáp đường bê tông vào nhà ông (đường do ông C làm và sử dụng từ nhiều năm nay) và lấn cả sang phần đất phía trong cổng nhà ông. Vì vậy, ông khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc vợ chồng ông T, bà T1 phải tháo dỡ tài sản trên đất để trả lại phần đất đã lấn chiếm theo kết quả đo đạc là 161,4m² tại thửa 464, TBĐ 14 bản đồ địa chính tại tổ G, phường T, TP . đã được UBND tỉnh T cấp GCNQSD đất ngày 08/12/1997.

Bị đơn ông Ngô Văn T và bà Lê Thị T1 trình bày:

Gia đình ông bà có thửa đất số 389, tờ bản đồ số 13 bản đồ 299 đã được UBND tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E764340, cấp ngày 01 tháng 3 năm 1996 mang tên Ngô Văn T, diện tích thửa đất trên giấy chứng nhận là 2525 m² loại đất thổ cư. Nguồn gốc đất là ông bà mua của ông Q từ năm 1995, trước đó, ông Q đã sử dụng từ năm 1980. Năm 2019, ông bà kiểm tra bản đồ nên đã quây tấm rào proximăng và đóng cọc theo ranh giới bản đồ địa chính.

Nay ông Lê Văn U khởi kiện yêu cầu gia đình ông bà trả lại đất lấn chiếm, gia đình ông bà không nhất trí. Ông Ngô Văn T có đơn phản tố đề nghị Tòa án công nhận diện tích tranh chấp 161,4m² thuộc quyền sử dụng của gia đình ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thành C và bà Lưu Thị Thanh M trình bày:

Năm 1999, ông bà có mua toàn bộ nhà, đất và hoa màu thuộc thửa đất số 464 tờ bản đồ số 14 của ông Lê Văn U (là anh họ của ông C), giá trị chuyển nhượng là 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng), có giấy viết tay có xác nhận của Xí nghiệp luyện kim màu II, nhưng thực tế ông bà mới giao được cho ông U 13.000.000₫ (mười ba triệu đồng), do vậy ông U vẫn giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc. Từ khi mua thửa đất trên, gia đình ông bà đã ở và sử dụng ổn định đến nay theo các mốc giáp ranh lân cận mà ông U bàn giao. Quá trình quản lý sử dụng, giữa đất nhà ông U và ông T có ranh giới rõ ràng là bờ ao, gia đình ông bà vẫn trồng chuối, khế, vải trên đất, sử dụng ổn định và không tranh chấp với ai.

Năm 2016, gia đình ông T có xin đi nhờ đất nhà ông bà để chở đất đổ vào vườn nhà ông T. Khi đổ xong, bà T1 còn ra vun đất gọn vào cho khỏi vương vãi sang đất của gia đình ông bà, chính vì đổ đất nên phần đất nhà ông T từ đó có mặt bằng cao hơn hẳn phần đất nhà ông bà. Trước đó thì mặt bằng đất của gia đình ông bà cao hơn đất phía bên nhà ông T, hai bên ngăn cách bởi bờ ao tại khu vực giáp ranh nhưng sau khi gia đình ông T đổ đất xong thì đất nhà ông T lại cao hơn đất nhà ông bà. Năm 2019 ông T đã quây rào vượt qua ranh giới, lấn sang phần đất của nhà ông bà đang sử dụng. Ông bà đã gọi điện cho ông U về sự việc trên nên ông U đã về để nói chuyện với gia đình ông T. Nay ông bà đề nghị Toà án xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông U, công nhận quyền sử dụng đất đối với phần tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông U, còn việc mua bán giữa ông bà với ông U thì nội bộ gia đình ông bà với ông U tự giải quyết với nhau, ông bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất số 464, TBĐ số 14 phường T mà ông U được cấp GCNQSD đất có diện tích 1.415m², gồm 300m² đất ở và 1115m² đất vườn tạp. Diện tích đo hiện trạng có 1322m², trong đó có 1.252,7m² nằm trong thửa 464. Phần diện tích tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn được xác định là 161,4m², nằm trong phạm vi thửa 464, trên đất có các cột bê tông, tấm lưới, tấm lợp proximăng của gia đình ông T. Ngoài ra có một số cây cối gồm: 01 cây khế, 01 cây ổi, 30 cây chuối. Ông T và bà T1 cho rằng chuối do gia đình chủ cũ của ông T trồng, khế do tự mọc, cây ổi do ông T trồng cách đây vài năm. Ông C và bà T3 xác định cây chuối và khế do gia đình ông C trồng, hàng năm vẫn thu hoạch bán lá chuối, chỉ có cây ổi do gia đình ông T trồng, sở dĩ ông C không có ý kiến gì khi ông T trồng ổi vì cây ổi được trồng ở vị trí giáp ranh và khi đó hai gia đình cũng chưa có tranh chấp.

Với nội dung nêu trên, tại bản án số 102/2024/DSST ngày 23 tháng 09 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:

Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166 Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn U đối với bị đơn ông Ngô Văn T và bà Lê Thị T1 về việc yêu cầu trả lại diện tích đất lấn chiếm.
  2. Buộc gia đình ông Ngô Văn T và bà Lê Thị T1 phải tháo dỡ toàn bộ cột bê tông, tấm lưới, tấm Proximăng để trả cho ông Lê Văn U diện tích đất 161,4m² thuộc thửa số 464, tờ bản đồ số 14 phường T, TP . có trong Giấy chứng nhận QSD số L 906776 do UBND tỉnh T cấp ngày 08/12/1997 mang tên ông Lê Văn U. (có trích lục sơ đồ diện tích 161,4m² kèm theo gồm các điểm: 7-8-9-10-11-12-13-14-15-16-H-I-K-L-M-N-7)

  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Ngô Văn T đối với nguyên đơn ông Lê Văn U về việc đề nghị công nhận diện tích đất 161,4m² thuộc quyền sử dụng của gia đình ông T tại thửa 389, tờ bản đồ 299 số 13 phường T, TP tỉnh Thái Nguyên.
  4. Án phí: Ông Lê Văn U không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Ông Ngô Văn T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Lê Thị T1 chịu số tiền 8.735.775đ (tám triệu bẩy trăm ba mươi lăm nghìn bẩy trăm bẩy mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

  6. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn ông Lê Văn U về việc tự chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản (đã thực hiện xong).

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/10/2024 ông Ngô Văn T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm ông Ngô Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo, cho rằng gia đình ông sử dụng đất đúng ranh giới, năm 2019 gia đình ông mới đóng cọc bê tông, quây tấm rào proximăng và lưới để sử dụng trên phần đất thổ cư gia đình ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996 tại thửa đất 389, tờ bản đồ số 13 bản đồ 299, diện tích là 2525 m², không lấn chiếm đất của ông U.

Bà T1 trình bày về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất như ông T đã khai, năm 2019 gia đình bà có đóng cọc bê tông đúng ranh giới giữa 02 gia đình, không lấn chiếm đất của ông U.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T đề nghị Toà án thẩm định lại để làm rõ số thửa đất giữa 02 gia đình theo bản đồ địa chính.

Ông C và bà M cùng trình bày: Ông bà là người trực tiếp quản lý và sử dụng đất được giao từ ông U, mặc dù giữa ông U và ông C đã có giấy chuyển nhượng đất viết tay, nhưng do có quan hệ là họ hàng ông C chưa giao hết tiền, ông U chưa giao Giấy chứng nhận cho ông C. Do vậy, quyền sử dụng đất vẫn là của ông U. Kể từ khi được ông U giao đất và nhà để quản lý và sử dụng từ năm 1999 đến nay không có tranh chấp với ai, nhưng từ năm 2019 gia đình ông T và bà T1 đã lấn chiếm một phần đất, đóng cọc bê tông, dùng tấm proximăng và lưới để quây vào sử dụng. Nay ông U khởi kiện là đúng, ông T và bà T1 phải trả lại diện tích đã lấn chiếm. Còn đối với việc chuyển nhượng đất giữa ông C và ông U tự giải quyết.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên toà: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T4. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    • - Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Toà án cấp sơ thẩm xác định “tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật.
    • - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú tại phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, cũng là nơi có tài sản tranh chấp. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên là đúng về thẩm quyền.

    Bị đơn ông Ngô Văn T kháng cáo trong hạn luật định và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

    Về sự vắng mặt của ông Lê Văn U là nguyên đơn, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Lê Văn U.

  2. Về nội dung:
  3. Năm 1983 ông U có nhận chuyển nhượng đất của người khác. Ông kê khai và được cấp GCNQSDĐ số L 906776 ngày 08/12/1997 của UBND tỉnh T với diện tích 300m² đất ở và 1115m² đất vườn tạp tại thửa số 464, tờ bản đồ 14 phường T, TP .. Còn khoảng 1.000m² chưa được cấp GCNQSD. Năm 1998 ông có viết giấy “Giấy nhượng bán nhà đất” không ghi diện tích, số thửa, số tờ bản đồ, có ghi giá trị chuyển nhượng 30.000.000đ, có xác nhận xí nghiệp luyện kim mầu II ngày 30/3/1999 cho ông Lê Thành C, ông C quản lý và sử dụng từ năm 1999 đến nay. Nhưng do điều kiện tài chính khó khăn ông C chưa thanh toán hết tiền chuyển nhượng như đã thoả thuận, ông U chưa giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C.

    Về Nguồn gốc đất của ông Ngô Văn T và bà Lê Thị T1: Năm 1995 ông T1 và và T nhận chuyển nhượng đất của ông Q (Hiện không rõ họ và tên, không biết ông Quảng hiện ở đâu) có diện tích 2890m². Năm 1996 được UBND tỉnh B cấp GCNQSDĐ số 266/QĐ-UB ngày 01/3/1996 mang tên Ngô Văn T với diện tích 2525m² đất thổ cư tại thửa số 398 và 365m² đất ao tại thửa số 409 cùng tờ bản đồ số 13, ông T và bà T1 sử dụng từ đó cho đến nay. Năm 2019, ông Ngô Văn T và bà Lê Thị T1 đã quây tấm rào proximăng và đóng cọc vào vị trí giáp danh giữa 02 thửa đất của gia đình ông T và ông U gia đình thì xảy ra tranh chấp.

    Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án xác định, thửa đất số 464, TBĐ số 14 phường T mà ông U được cấp GCNQSD đất có diện tích 1.415m², gồm 300m² đất ở và 1115m² đất vườn tạp. Diện tích sử dụng theo hiện trạng có 1.322m², trong đó có 1.252,7m² nằm trong thửa 464. Phần diện tích tranh chấp giữa ông U với bị đơn được xác định là 161,4m², nằm trong phạm vi thửa 464, giáp với thửa đất mà gia đình ông T đang sử dụng. Trên đất có các cột bê tông, tấm lưới, tấm lợp proximăng của gia đình ông T. Ngoài ra có một số cây cối gồm: 01 cây khế đường kính 5 - 8cm, 01 cây ổi đã cho thu hoạch, 30 cây chuối (Ông T, bà T1 cho rằng chủ cũ trồng, khế do tự mọc, cây ổi do ông T trồng cách đây vài năm. Còn ông C và bà T3 cho rằng cây chuối và khế do gia đình ông C trồng, cây ổi do gia đình ông T trồng).

    Ngày 28/4/2024 Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã làm việc với UBND phường T. Kết quả đối soát thửa đất 389, tờ số 13, bản đồ 299 có diện tích 2890m² được UBND tỉnh B cấp GCNQSDĐ số E 746340 ngày 01/3/1996 mang tên Ngô Văn T tương ứng với thửa 465, tờ bản đồ số 14 bản đồ địa chính đo vẽ năm 1995 có diện tích là 2282,5m², tương ứng với thửa 465, tờ bản đồ số 14 bản đồ địa chính đo vẽ năm 2015 có diện tích là 2458,2m².

    Việc ông U đã viết giấy “Giấy nhượng bán nhà đất” cho ông Lê Thành C là em họ của ông U. Tuy nhiên, ông Lê Thành C chưa giao hết tiền chuyển nhượng cho ông U, lên ông U chưa giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C, còn ông C quản lý và sử dụng thửa đất từ năm 1999 đến nay. Do vậy, việc mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đến nay vẫn chưa được thực hiện xong. Ông U và ông C đề nghị được tự giải quyết, Toà án không xem xét là đúng pháp luật.

    Với những nhận định như trên, Hội đồng xét xử thấy diện tích đất đang có tranh chấp là 161,4m², nằm trong phạm vi thửa 464, tờ bản đồ số 14 phường T, thành phố T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 906776 ngày 08/12/1997 của UBND tỉnh T cho ông Lê Văn U. Năm 2019 vợ chồng ông Ngô Văn T và bà Lê Thị T1 cho rằng đó là của mình và đóng cọc bê tông, dùng tấm proximăng, lưới quây vào để sử dụng là không đúng phần đất của ông Ngô Văn T và bà Lê Thị T1. Do vậy, việc ông U khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Ngô Văn T và bà Lê Thị T1 phải trả lại 161,4m² đất tại thửa số464, tờ bản đồ số 14 phường T, thành phố T và phải tháo dỡ toàn bộ tấm proximăng, lưới và cọc bê tông để trả lại cho ông U là có căn cứ.

    Việc ông Ngô Văn T và bà Lê Thị T1 cho rằng diện tích đất trên thực tế gia đình đang quản lý, sử dụng không phù hợp với diện tích đất gia đình ông bà đã được nhà nước giao đất (So với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp) không có nghĩa phần đất thiếu so với giấy chứng nhận nằm vào thửa đất của ông U. Cũng như diện tích đất của ông U trên thực tế sử dụng lớn hơn so với diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có nghĩa là đã lấn sang đất của gia đình ông T. Do vậy, ông Ngô Văn T phản tố yêu cầu công nhận diện tích đất 161,4m² là của gia đình ông T là không có căn cứ để chấp nhận.

    Về án phí: Kháng cáo của ông Ngô Văn T không được chấp nhận, phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên, ông Ngô Văn T là người cao tuổi. Do vậy, cần miễn án phí phúc thẩm đối với ông Ngô Văn T, hoàn lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là đúng quy định của pháp luật.

    Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, Toà án đã xem xét thẩm định tại chỗ có bản trích đo hiện trạng sử dụng đất, đã thực hiện đối soát đối với diện tích đất của ông Ngô Văn T có đủ căn cứ để giải quyết. Do vậy, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Ngô Văn T tại phiên toà phúc thẩm đề nghị thẩm định lại là không cần thiết.

    Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án có căn cứ pháp luật cần chấp nhận.

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Văn T.

  1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 102/2024/DSST ngày 23 tháng 09 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Ngô Văn T. H lại cho ông Ngô Văn T số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003269 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/DSPT ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 32/2025/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Văn T. 1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 102/2024/DSST ngày 23 tháng 09 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger