Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN AN DƯƠNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày 20-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Vũ Văn Thi
  • Ông Phạm Văn Dung

Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Thành Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 31/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Văn P, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1983 tại Hải Phòng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã L, huyện T (N là Tổ dân phố D, phường L, thành phố T), thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: Thôn C, xã L, huyện T (N là Tổ dân phố C, phường L, thành phố T), thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn X và bà Cù Thị B; có vợ là Lê Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/9/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 03/4/2023, Chi cục Thuế khu vực H2 - An Dương chuyển hồ sơ vụ việc Công ty TNHH Đ1 (Công ty Đ1), có trụ sở tại thôn H, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng có dấu hiệu vi phạm về hóa đơn và thuế đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đề nghị xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Kết quả xác minh: Công ty Đ1 không có hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, không có trụ sở, kho bãi, không treo biển tại địa chỉ đăng ký kinh doanh; xuất hóa đơn bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ với doanh số lớn nhưng không có hóa đơn đầu vào theo quy định. Hiện không còn hoạt động kinh doanh tại địa chỉ đã đăng ký và bị cảnh báo có dấu hiệu vi phạm về thuế, hóa đơn. Công ty Đ1 xuất tổng số 635 hóa đơn giá trị gia tăng cho nhiều doanh nghiệp, tổ chức. Trong đó, xuất 25 số hóa đơn xuất cho Công ty TNHH A (Công ty A), có trụ sở tại thôn C, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A tiến hành xác minh, triệu tập Lê Văn P là nhân viên Công ty A đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn P khai nhận: Từ tháng 10/2021 đến tháng 10/2022, P được Công ty A giao phụ trách việc sửa chữa máy móc và thuê xe vận chuyển vật liệu. Do giá trị sửa chữa và vận chuyển vật liệu ít (đều dưới 20.000.000 đồng), không tìm được doanh nghiệp nào nhận làm nên P đã liên hệ và thỏa thuận với Bùi Duy Đ (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) thực hiện các hạng mục này. Đ có trách nhiệm tìm các đơn vị cung cấp hóa đơn để hợp thức hóa giao dịch. Tiền công sửa chữa và vận chuyển được tính riêng còn tiền mua hóa đơn tính bằng tiền thuế giá trị gia tăng trên hóa đơn (08% hoặc 10%). Sau đó, Đ giới thiệu P liên hệ với Trần Thị Quỳnh T, sinh năm 1989, trú tại: xóm C T, L, A, Hải Phòng. Từ ngày 27/10/2021 đến 21/10/2022, T giao cho P 25 số hóa đơn đã ghi nội dung với tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế là 195.146.455 đồng của Công ty Đ1. Việc thanh toán tiền mua hóa đơn, P chuyển tiền mặt cho những người Thoa cử đến hoặc nhờ chị Đặng Thị Xuân M và chị Trần Thị Thanh H1 là nhân viên Công ty A chuyển khoản giúp vào tài khoản ngân hàng của T. Sau khi mua hóa đơn, P đã thực hiện việc kê khai hàng hóa, dịch vụ đầu vào cho Công ty A đối với 25 số hóa đơn nêu trên tại Chi cục thuế khu vực Hồ N - A. Sau khi Chi cục thuế khu vực H2 - A phát hiện Công ty Đ1 có dấu hiệu vi phạm quy định về thuế và hóa đơn, Công ty A đã hủy bỏ việc kê khai thuế đối với 25 số hóa đơn của Công ty Đ1 nên chưa được khấu trừ thuế giá trị gia tăng.

Cáo trạng số 39/CT-VKSAD ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lê Văn P về tội “Mua bán trái phép hoá đơn” theo khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Lê Văn P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là trái pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn P phạm tội “Mua bán trái phép hoá đơn”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn P từ 120.000.000đồng đến 150.000.000đồng về tội “Mua bán trái phép hoá đơn”; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Iphone XS Max. Về biện pháp cưỡng chế: Áp dụng Điều 130 Bộ luật Hình sự hủy bỏ biện pháp phòng tỏa tài khoản tại Lệnh phong tỏa tài khoản số 1000/LPT-ĐCSKTMT ngày 02/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện A. Về án phí: Bị cáo được phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
  2. Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 10/2021 đến tháng 10/2022, Lê Văn P đã mua trái phép 25 số hóa đơn ghi nội dung của Công ty TNHH Đ1 để hợp thức hóa đầu vào cho các hạng mục sửa chữa máy móc và vận chuyển vật liệu cho Công ty TNHH A với tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế là 195.146.455 đồng nhưng không thu lợi. Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn P đã phạm tội “Mua bán trái phép hoá đơn” quy định tại khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Hình sự.
  3. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến sản xuất, kinh doanh. Do vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
  4. Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  5. Về nhân thân và hình phạt: Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, mục đích bị cáo mua hóa đơn không nhằm mục đích vụ lợi, bị cáo có điều kiện về kinh tế, tội phạm bị cáo thực hiện có quy định hình phạt chính là phạt tiền nên xét áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đảm bảo được việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Xét hành vi phạm tội của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  6. Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động Iphone XS Max của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  7. Về biện pháp cưỡng chế: Tại Lệnh phong tỏa tài khoản số 1000/LPT-DDCSKTMT ngày 02/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện A (nay là Công an Quận A) đã phong tỏa số tiền 6.018.635 tại tài khoản số 0031000133482 của Lê Văn P mở tại Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh Đ2. Tại phiên tòa bị cáo xuất trình biên lai nộp tiền trước xét xử với số tiền là 120.000.000đồng, do vậy xét không cần thiết phải phong tỏa số tiền nêu trên của bị cáo nên áp dụng Điều 130 Bộ luật Hình sự hủy lệnh phong tỏa tài khoản của bị cáo đối với số tiền 6.018.635 đồng.
  8. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn P.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn P phạm tội “Mua bán trái phép hoá đơn”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn P 120.000.000đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Lê Văn P 01 điện thoại di động màu vàng Iphone XS Max (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận An Dương, thành phố Hải Phòng).

Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú số 08/2025/HSST-QĐ ngày 23/01/2025 đối với bị cáo Lê Văn P.

Về biện pháp cưỡng chế: Áp dụng Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản số 1000/LPT-DDCSKTMT ngày 02/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện A (nay là Công an quận A), thành phố Hải Phòng đối với số tiền 6.018.635 tại tài khoản số 0031000133482 của Lê Văn P mở tại Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh Đ2 (Biên bản phong tỏa tài khoản ngày 23/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện A và Ngân hàng TMCP N Chi nhánh Đ2).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận An Dương;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận An Dương;
  • - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Hải Phòng;
  • - Trại Tạm giam Công an T.P Hải Phòng;
  • - Tòa án nhân dân TP Hải Phòng;
  • - Phòng PV 06, PC 10 Công an T.P Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp T.P Hải Phòng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng về hình sự (tội mua bán trái phép hoá đơn)

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Mua bán trái phép hoá đơn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Phương
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger