Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày: 19-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Viển.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Chánh Bổn.
  2. Ông Hoàng Luật

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa:

Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, Thông báo số 01/2025/TB-TA về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Tiến P - sinh năm 2000, tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Đỗ Ngọc H - sinh năm 1971 và bà Đỗ Thị Ngọc B - sinh năm 1973; chung sống như vợ chồng với chị Lê Ngọc Lan A – sinh năm 1999 (đã chết) và 01 người con sinh năm 2023; tiền sự: Không; nhân thân: Không.

* Tiền án: 01: Ngày 18/04/2023 bị Toà án nhân huyện T, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 69/2023/HS-ST. Ngày 26/04/2024 chấp hành xong hình phạt tù, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 30/10/2023.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/10/2024 và tạm giam tại nhà Tạm giữ - Công an huyện Đ cho đến nay “có mặt”.

- Bị hại: Chị Phạm Thị Thu H1, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Số nhà D, khu dân cư B, ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai “vắng mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đỗ Ngọc H, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Số G, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai “có mặt”.
  2. Ông Trần Hoàng Anh Quốc Đ, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Số F, L, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”
  3. Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Số C, B, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.
  4. Ông Đặng Nhật T1, sinh năm 1987. Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai “vắng mặt”.
  5. Bà Hồ Thị H2, sinh năm 1978. Nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 08/10/2024, Đỗ Tiến P đi bộ đến tiệm thuốc Thú y bảng hiệu “Tân Hương” của chị Phạm Thị Thu H1 để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi P quan sát xung quanh thấy tiệm thuốc khóa cửa ngoài, nên P sử dụng 01 đoạn sắt (cây mở khóa mang theo) mở ổ khóa rồi đi vào bên trong tiệm. Sau đó, P đến bàn tính tiền lấy 01 laptop, 01 điện thoại, rồi kéo hộc tủ lấy 3.000.000 đồng và 01 dây chuyền vàng, rồi đến khu vực khám thú y lấy trộm 01 máy sinh hóa; 01 máy siêu âm; 01 máy đo huyết áp. Sau khi lấy trộm được những tài sản trên, P bỏ vào cái áo mưa cột lại rồi tẩu thoát ra ngoài, P đi bộ dọc Q về khu vực N thuộc xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai rồi đem vào đám rẫy (không xác định được vị trí) cất giấu, riêng 01 sợi dây chuyền, điện thoại di động và tiền mặt 3.000.000 đồng P cầm đi về nhà. Đến khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 08/10/2024 P đem dây chuyền bán cho tiệm vàng “Kim T2” của chị Hồ Thị H2 được 6.000.000 đồng, rồi P đi đến cửa hàng điện thoại “N” của anh Đăng Nhật T3, bán điện thoại trên được 1.000.000 đồng rồi P đi về nhà. Đến khoảng 09 giờ 00 phút sáng cùng ngày P lên trên mạng xã hội tìm kiếm người mua tài sản trộm cắp được, P nhận được thông tin của Công ty trách nhiệm hữu hạn D ở Quận G - thành phố Hồ Chí Minh có nhu cầu muốn mua. P liên hệ với anh Nguyễn Ngọc T (là quản lý Công ty D) để bán tài sản, qua trao đổi thì bên Công ty nói mua tài sản 01 máy sinh hóa; 01 máy siêu âm; 01 máy đo huyết áp; mua với giá 25.000.000 đồng thì P đồng ý bán, sau đó P đón xe khách đem máy xuống thành phố Hồ Chí Minh bán cho Công ty trên để lấy tiền bị bắt cùng tang vật.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đỗ Tiến P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như trên.

*Tài sản thiệt hại:

  • - 01 máy phân tích sinh hóa đĩa tự động nhãn hiệu LOCMEDT, Model: NOAL CALI 100;
  • - 01 máy siêu âm thú y xách tay nhãn hiệu CHISON-TQ, Model:ECO1;
  • - 01 máy đo huyết áp nhãn hiệu CONTEC;
  • - 01 sợi dây chuyền vàng trọng lượng 1,5 chỉ loại vàng 18K;
  • - 01 Laptop hiệu Asus VivoBook A4112FA i310110U/4GB/512/Win 10;
  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO A17K màu xanh;
  • - Tiền mặt: 3.000.000 đồng.

Căn cứ Bản kết kết luận định giá tài sản số 46/KL-HDĐGTS ngày 23/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ xác định: 01 Máy phân tích sinh hóa đĩa tự động, trị giá 75.500.000 đồng; 01 Máy siêu âm thú y xách tay, trị giá 43.500.000 đồng; 01 máy đo huyết áp trị giá 3.000.000 đồng; 01 sợi dây chuyền vàng, trọng lượng 1,5 chỉ loại vàng 18K trị giá 7.302.500 đồng; 01 Laptop hiệu Asus, trị giá 3.500.000 đồng; 01 Điện thoại di động hiệu OPPO A17K màu xanh trị giá 1.200.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản thiệt hại là: 134.002.500 đồng.

Tổng giá trị tài sản thiệt hại trong vụ án là: 137.002.500 đồng (bao gồm 3.000.000đ tiền mặt).

* Vật chứng vụ án:

  • - 01 máy phân tích sinh hóa, 01 máy siêu âm, 01 máy đo huyết áp, 01 máy laptop và 01 điện thoại di động hiệu OPPO.
  • - 01 sợi dây chuyền vàng.
  • - 01 cây sắt dài khoảng 20cm có đầu hình tam giác nhô ra (cây mở khóa), 01 ổ khóa Việt Tiệp.

Tại Cáo trạng số 33/CT-VKSĐQ ngày 13 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Đỗ Tiến P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự tuyên bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Kiểm sát viên còn nêu quan điểm về biện pháp tư pháp và án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ để kết tội đối với bị cáo: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 08/10/2024, tại tiệm thuốc Thú y bảng hiệu “Tân Hương” ở ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Đỗ Tiến P đã có hành vi lén lút trộm cắp của chị Phạm Thị Thu H1 những tài sản gồm: 01 máy phân tích sinh hóa, 01 máy siêu âm thú y xách tay, 01 máy đo huyết áp, 01 sợi dây chuyền vàng, 01 Laptop hiệu Asus, 01 Điện thoại di động hiệu OPPO và 3.000.000 đồng tiền mặt. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là: 137.002.500 đồng. Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 33/CT-VKSĐQ ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Đỗ Tiến P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử với mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của bị cáo gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, tài sản đã thu hồi trao trả cho chủ sở hữu, bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có con còn nhỏ là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra, do tài sản bị thiệt hại trong vụ án bị cáo đã bán và tiêu xài cá nhân hết không thu hồi được (01 dây chuyền vàng và 3.000.000 đồng) nên chị Phạm Thị Thu H1 đã yêu cầu bị cáo Đỗ Tiến P bồi thường thiệt hại với số tiền 11.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị cáo P là ông Đỗ Ngọc H (cha bị cáo) đã tự nguyện bồi thường số tiền trên, chị H1 đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu gì thêm.

Đối với số tiền 3.000.000₫ mà bị cáo nhận của ông Nguyễn Ngọc T là tiền cọc để mua bán 01 máy phân tích sinh hóa, 01 máy siêu âm thú y xách tay, 01 máy đo huyết áp thì ông Trung không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Đối với số tiền 1.000.000₫ mà bị cáo bán điện thoại cho ông T3 thì ông T3 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

[6]. Về xử lý vật chứng vụ án:

  • - Đối với 01 máy phân tích sinh hóa, 01 máy siêu âm, 01 máy đo huyết áp, 01 máy laptop và 01 điện thoại di động hiệu OPPO đã thu hồi được là tài sản của chị Phạm Thị Thu H1. Nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu là đúng quy định.
  • - Đối với 01 cây sắt dài khoảng 20cm có đầu hình tam giác nhô ra (cây mở khóa), 01 ổ khóa Việt Tiệp mà P ném ở ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai không thu hồi được. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng, nhưng đến nay vẫn chưa thu giữ được, khi nào tìm được xử lý sau.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi 12 màu đen số Imel 861065068745646; Imel 861065068745653 có gắn số sim 0866775685 mà bị cáo dùng để liên lạc với ông T để bán 01 máy phân tích sinh hóa, 01 máy siêu âm thú y xách tay, 01 máy đo huyết áp. Xét đây không phải là công cụ phương tiện để bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra trao trả cho bị cáo là phù hợp.
  • - Đối với số tiền 3.000.000 đồng mà bị cáo nhận của ông Nguyễn Ngọc T là tiền cọc để mua bán 01 máy phân tích sinh hóa, 01 máy siêu âm thú y xách tay, 01 máy đo huyết áp và số tiền 1.000.000 đồng mà bị cáo bán điện thoại cho ông T3 đây là tiền bị cáo thu lợi bất chính nên buộc bị cáo phải nộp lại để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[7]. Về các vấn đề khác: Đối với ông Nguyễn Ngọc T, ông Trần Hoàng Anh Quốc Đ, ông Đặng Nhật T1, bà Hồ Thị H2 là những người mua tài sản mà bị cáo trộm cắp được, khi mua ông T, ông Đ, ông T1, bà H2 không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không xử lý đối với ông T, ông Đ, ông T1, bà H2.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đề nghị của Viện kiểm sát: Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, hình phạt, biện pháp tư pháp, các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Tiến P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Đỗ Tiến P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2024.

  3. Buộc bị cáo Đỗ Tiến P phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
  4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Tiến P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an H. Định Quán;
  • - VKSND H. Định Quán ;
  • - CCTHADS H. Định Quán;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND cấp xã;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Lưu AV, HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Viển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: DO TIEN P phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger