|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 32/2025/DS-ST Ngày: 19/02/2025. V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Trần Xuân Văn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phước Tường.
Ông Phạm Trung Thành.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hiển, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 685/2025/TLST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc tranh hợp đồng góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXX-ST ngày 13 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Ngô Văn T; sinh năm 1964.
Địa chỉ: ấp Hậu Thuận, xã Hậu Thành, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện theo ủy quyền cho Ông T: Anh Hồ Tấn X, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh H.
Bị đơn: Ông Hồ Văn L, sinh năm 1968.
Anh Hồ Chí T; sinh năm: 2000.
Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T.
(Anh X, Ông L có mặt, Anh T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Anh Hồ Tấn X là đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn trình bày: Khoản năm 2015, Ông T có tham gia chơi hụi do Ông L, bà Cân làm đầu thảo. Năm 2021, bà Cân chết, Ông L tiếp tục làm đầu thảo các dây hụi và tiếp tục góp hụi. Đến năm 2023, Ông L tuyên bố bể hụi và ngưng góp hụi cho đến nay. Sau khi đối chiếu lại danh sách hụi, Ông L có lập 01 biên nhận thừa nhận còn nợ Ông T số tiền hụi là 155.000.000 đồng sau đó trả được 28.000.000 đồng, còn nợ lại 127.000.000 đồng. Nay Ông T khởi kiện yêu cầu Ông L, Anh T liên đới trả cho anh số tiền nợ trên. Yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật kể từ ngày 26/11/2024 cho đến khi xét xử vụ án.
Tại tờ tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Ông Hồ Văn L trình bày: Ông thừa nhận còn nợ Ông T số tiền 127.000.000 đồng, ông đồng ý trả nhưng hiện tại do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có khả năng trả 01 lần nên xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, Anh X giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông L giữ nguyên ý kiến, Anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa Ông Ngô Văn T và Ông Hồ Văn L, Anh Hồ Chí T là quan hệ tranh chấp hợp đồng góp hụi thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền cho anh Hùng có thay đổi so với yêu cầu khởi kiện ban đầu. Cụ thể nguyên đơn rút lại yêu cầu tính lãi suất. Xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trên cơ sở tự nguyện, nội dung xin thay đổi nằm trong yêu cầu khởi kiện ban đầu, có lợi cho bị đơn, phù hợp với quy định tại Điều 244 bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ông T: Trong quá trình giải quyết vụ án, hai bên đã thống nhất về việc có giao dịch chơi hụi và vay mượn tiền với nhau. Ông L thừa nhận còn nợ Ông T số tiền 127.000.000 đồng và đồng ý trả. Như vậy có đủ cơ sở xác định giao dịch hụi, vay giữa hai bên là có thật, nên yêu cầu khởi kiện của Ông T là có cơ sở chấp nhận.
Xét việc nguyên đơn yêu cầu Ông L, Anh T liên đới trả số tiền còn nợ: Tại phiên tòa, nguyên đơn chỉ cung cấp được biên nhận nợ do Ông L viết và ký tên, ngoài ra không có chứng cứ nào chứng minh số tiền trong biên nhận Ông L viết có liên quan đến bà Cân vì vậy việc nguyên đơn cho rằng Anh T là hàng thừa kế thứ nhất phải có nghĩa vụ trả số tiền trên là không có cơ sở chấp nhận.
[3] Xét việc Ông L xin trả dần số tiền còn nợ mỗi tháng trả 1.000.000 đồng: Việc Ông L nợ Ông T số tiền trên trong thời gian dài. Ông T đã nhiều lần yêu cầu trả nhưng bị đơn không thực hiện. Như vậy chứng tỏ Ông L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với nguyên đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền cho Ông T không đồng ý với cách trả của Ông L. Bản thân Ông L không chứng minh được hoàn cảnh kinh tế hiện tại của mình đang gặp khó khăn nên yêu cầu xin trả dần là không có cơ sở xem xét.
[4] Về án phí: Ông Hồ Văn L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3, Điều 26, các Điều 147, 244, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 463, 471, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ vào Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của chính phủ quy định về Họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ vào nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Ngô Văn T. Buộc Ông Hồ Văn L trả cho Ông T số tiền 127.000.000 đồng.
Kể từ ngày Ông Ngô Văn T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Ông Hồ Văn L chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
2/ Về án phí: Ông Hồ Văn L phải chịu 6.350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Ngô Văn T thuộc trường hợp được xét miễn án phí theo quy định pháp luật.
3/ Ông Ngô Văn T, Ông Hồ Văn L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Anh Hồ Chí T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Trần Xuân Văn |
Bản án số 32/2025/DS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 32/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
