TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày: 17/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Hồng Quang
Các Hội thẩm nhân dân: 1 - Ông Phùng Văn Thành
2 - Bà Lưu Thị Hà
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST - HS ngày 20/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS, ngày 03/02/2025 đối với bị cáo:
Trần Huy T; sinh năm: 1987; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ A, phường S (nay là phường P), quận L, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Trần Văn T1 (đã chết) và con bà Phan Thị Kim D; có vợ là Dương Thị Thu T2 và có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 167/2024/HSST, ngày 29/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thời gian thử thách 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; đang trong thời gian chấp hành án treo tại địa phương; bị cáo tạm giữ từ ngày 10/11/2024, tạm giam từ ngày 19/11/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an quận L, thành phố Hà Nội. “Có mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Bùi Thị Minh T3, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xóm M, xã N, huyện C, tỉnh Hòa Bình; chỗ ở: A N, phường T, quận L, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt".
- Anh Dương Thanh Q, sinh năm 1989; nơi cư trú: A Đê L, N, quận Đ, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 09/11/2024, Dương Thanh Q đến quán cà phê H cho nhau nghe Q1 tại số A ngõ D S, L, Hà Nội do Trần Huy T làm chủ để uống nước và hát. Tại đây, Q có nhu cầu quan hệ tình dục với gái bán dâm nên đã hỏi T có biết ai bán dâm để giới thiệu cho Q hay không và T trả lời “có” đồng thời thỏa thuận với Q giá mua dâm là 2.000.000 đồng. Q đồng ý và chuyển khoản cho T số tiền 2.000.000 đồng để T đi tìm gái bán dâm. T có bảo Q lên phòng hát chờ trước để T đi tìm gái mại dâm. Sau đó, T đi đến quán M tại số A N, T, L, Hà Nội và gặp Bùi Thị Minh T3. T bảo T3 có khách muốn mua dâm “cho khách làm 01 cái”, T3 hiểu mỗi lần bán dâm được 2.000.000 đồng nên đồng ý và mang theo bao cao su chuẩn bị sẵn đi cùng T đến quán hát của T. Tại đây, T dẫn T3 lên phòng hát tầng 2 gặp Q sau đó T chuyển cho T3 số tiền 2.000.000 đồng. Trước khi xuống tầng, T dặn hai người chỉ được uống nước và hát ở quán; khi nào có nhu cầu quan hệ tình dục thì thanh toán tiền phòng rồi ra nhà nghỉ. Sau đó, T ra ngoài có việc và dặn vợ là Dương Thị Thu T2 trông quán, khi nào khách hát xong thì thanh toán cho khách. Tuy nhiên, T2 và Q ngồi hát karaoke khoảng 10 phút thì cả hai tự ý sang phòng hát nhỏ hơn cùng tầng thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Khi đang quan hệ thì cả hai bị tổ công tác kiểm tra hành chính và phát hiện, lập biên bản đưa về trụ sở làm rõ.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax màu vàng, thu giữ của Trần Huy T; 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, thu giữ của Dương Thanh Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu trắng; số tiền 2.000.000 đồng, thu giữ của Bùi Thị Minh T3.
Tại bản cáo trạng số 19/CT/VKS-KSĐT ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo Trần Huy T về tội: “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Huy T từ 12 đến 15 tháng tù. Tổng hợp với 10 tháng tù của Bản án số 167/2024/HSST ngày 29/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử bị cáo về tội Đánh bạc. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án từ 22 đến 25 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/11/2024 được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 08/3/2024 theo Bản án số 167/2024/HSST ngày 29/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su; tịch thu sung quỹ Nhà nước 2.000.000 đồng và 03 chiếc điện thoại.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại Cơ quan Điều tra, bị cáo đã ăn năn, hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm đoàn tụ với gia đình.
XÉT THẤY
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] . Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận L, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản sự việc; vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Hồi 22 giờ 40 phút, ngày 09/11/2024, tại số nhà A, ngõ D S, phường S (nay là phường P), quận L, thành phố Hà Nội, Trần Huy T có hành vi dẫn dắt, giới thiệu để Bùi Thị Minh T3 bán dâm cho Dương Thanh Q. Vì vậy, bị cáo phạm tội: “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng sức khỏe con người, gây mất trật tự, trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để giáo dục, răn đe, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về nhân thân: Tại Bản án số 167/2024/HSST ngày 29/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, xử phạt bị cáo 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Đánh bạc. Do đó lần phạm tội này là trong thời gian thử thách của án treo nên bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự và phải chịu tình tiết tăng nặng trách hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su; tịch thu sung quỹ Nhà nước 2.000.000 đồng và 03 chiếc điện thoại.
[3]. Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax màu vàng, thu giữ của Trần Huy T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, thu giữ của Dương Thanh Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu trắng và số tiền 2.000.000 đồng, thu giữ của Bùi Thị Minh T3. Quá trình điều tra xác định các đối tượng sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- - Đối với 01 bao cao su đã qua sử dụng thu giữ của Dương Thanh Q cần tịch thu tiêu hủy.
[4]. Về vấn đề khác:
- - Đối với việc T3 và Q quan hệ tình dục mua bán dâm ngay tại quán là do tự phát mặc dù đã được T yêu cầu từ trước là quán của T chỉ phục vụ khách uống nước và hát karaoke; khi nào hai người có nhu cầu quan hệ thì phải ra nhà nghỉ; T3 và Q cũng không cho T biết việc hai người thực hiện luôn việc mua bán dâm tại quán của T. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý về hành vi Chứa mại dâm đối với Trần Huy T là có căn cứ;
- - Đối với hành vi bán dâm của Bùi Thị Minh T3, Công an quận L, thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định số 144 ngày 31/12/2021 của Chính phủ; đối với hành vi mua dâm của Dương Thanh Q, Công an quận L, thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định số 144 ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định;
- - Đối với chủ nhà số A, ngõ D S, quận L, thành phố Hà Nội là bà Phan Thị Kim D, sinh năm: 1962; hộ khẩu thường trú: Tổ A phường S (nay là phường P); quận L; thành phố Hà Nội) và người đứng tên đăng ký kinh doanh dịch vụ quán café là Dương Thị Thu T2, sinh năm: 1989; hộ khẩu thường trú: Tổ A phường S (nay là phường P), quận L, thành phố Hà Nội); hai người giao cho Trần Huy T trực tiếp kinh doanh và quản lý tại quán. T không cho bà D và chị T2 biết về việc mình môi giới mại dâm. Bà D và chị T2 không biết việc mua bán dâm giữa Dương Thanh Q với Bùi Thị Minh T3. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp với pháp luật.
[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Huy T phạm tội: “Môi giới mại dâm”.
Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 5 Điều 65; Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Huy T 12 tháng tù. Tổng hợp với 10 tháng tù theo Bản án số 167/2024/HSST, ngày 29/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo về tội Đánh bạc. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 22 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/11/2024 được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 08/3/2024 theo Bản án số 167/2024/HSST ngày 29/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu trắng và số tiền 2.000.000 đồng;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bao cao su đã qua sử dụng.
Toàn bộ số vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 16/01/2025 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên và Giấy nộp tiền vào tài khoản kho bạc Nhà nước Long Biên ngày 17/01/2025 của Công an quận L (Nộp vào tài khoản số: [...], đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên).
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hồng Quang |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (môi giới mại dâm)
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Môi giới mại dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Môi giới mại dâm
