|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17 - 02 -2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Võ Minh Đúng.
- - Bà Trương Thị Hồng Ngân.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 17/02/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 427/2024/TLST-HNGĐ ngày 24/10/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/01/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 102/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/01/2025, giữa các bên đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Thúy N, sinh năm 1977
Địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Bị đơn: Ông Nguyễn T, sinh năm 1973
Địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Bà N có mặt, ông T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/8/2024, bản tự khai và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Đặng Thị Thúy N trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn T tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là phường H), thị xã H ngày 13/01/2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống ở phường H có được 02 con chung. Trong thời gian chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, hay cãi nhau, hiện nay không còn sống chung với nhau. Nay bà xét thấy vợ chồng không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông T.
Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 28/10/1996 và Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 13/7/2008. Các cháu đã lớn tuổi muốn ở với ai thì người đó nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Nguyễn T, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo và nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà N. Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Đại diện VKSND thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là phù hợp quy định của pháp luật. Tại phiên toà bị đơn vắng mặt lần thứ hai, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Xét thấy vợ chồng bà Đặng Thị Thúy N và ông Nguyễn T mâu thuẫn trầm trọng, hiện nay không còn sống chung, mục đích của hôn nhân không đạt được đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, cho bà N được ly hôn ông T.
Về nuôi con chung: Cháu T1 đã trên 18 tuổi, các bên không có yêu cầu gì nên không xem xét. Đối với cháu Đ có nguyện vọng muốn ở với cha khi cha mẹ ly hôn, do đó cần giao con Nguyễn Hữu Đ cho ông T nuôi dưỡng. Tài sản chung các bên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Buộc bà N phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn nhận định.
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Đặng Thị Thúy N có đơn yêu cầu ly hôn ông Nguyễn T, giải quyết về nuôi con khi ly hôn. Đây là vụ án dân sự về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Nguyễn T đăng ký thường trú tại khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.
Tại phiên toà ông T vắng mặt lần thứ hai, căn cứ vào khoản 1 Điều 227của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
[2] Về nội dung vụ án: Bà Đặng Thị Thúy N và ông Nguyễn T có tìm hiểu nhau và tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là phường H) ngày 13/01/2002, nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Sau kết hôn vợ chồng sống tại khu phố T, phường H, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc có được 02 con chung, sau đó phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng hay cãi nhau, không có tiếng nói chung. Năm 2016 bà N cũng đã nộp đơn ly hôn nhưng được Toà án hoà giải nên vợ chồng đoàn tụ, sau đó cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc, hiện nay bà N ông T không còn sống chung với nhau, nay bà N yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn ông T.
Xét thấy, hiện nay bà N ông T không còn sống chung, không còn tình cảm nhau. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân là xây dựng một gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình giải quyết cho bà N được ly hôn ông T là phù hợp.
Đối với bị đơn Nguyễn T, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng, thông báo đến Tòa án để tham gia các phiên hòa giải nhưng ông T không đến Tòa án. Các phiên tòa ông T đều vắng mặt, chứng tỏ ông T cũng không có thiện chí níu kéo tình cảm của bà N để hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho ông T.
[3] Về con chung: Bà N ông T có 02 con chung tên Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 28/10/1996 và Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 13/7/2008. Anh T1 hiện nay đã trên 18 tuổi nên Toà không xem xét. Đối với cháu Đ có nguyện vọng được sống chung cha khi cha mẹ ly hôn. Do đó cần giao cháu Nguyễn Hữu Đ cho ông T nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình làm việc ông T không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Toà án tham gia các phiên hoà giải. Tại phiên toà bà N yêu cầu để hai bên tự giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
[4] Về tài sản chung: Hai bên không yêu cầu Toà án giải quyết.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 227; Điều 147; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56; 69; 71; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;
Bà Đặng Thị Thúy N được ly hôn ông Nguyễn Thọ .
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 13/7/2008, cho ông T nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Bà N ông T không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm bà Đặng Thị Thúy N phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006825 ngày 24/10/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Chiến |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Thi Ng ly hôn Nguyen Th
