|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày 13-02-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Cao Thị Hạ
Ông Nguyễn Nam Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 308/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1988, nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bị đơn: Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1981, nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Hồ N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là anh Hoàng Văn T trình bày:
Anh Hoàng Văn T và chị Đoàn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 25/5/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại thôn V, xã Đ, huyện K, thành
phố Hải Phòng được một thời gian, sau đó chị H sang Hồ N làm ăn. Từ đó, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do khoảng cách địa lý, bất đồng về quan điểm sống dẫn đến đời sống tình cảm lạnh nhạt, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chị H cũng không quay về Việt Nam lần nào nữa. Hiện nay anh T chỉ biết chị H đang ở Hồ N chứ không biết địa chỉ cụ thể. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh T đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh Hoàng Văn T và chị Đoàn Thị H không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Hoàng Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là chị Đoàn Thị H:
Sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Đoàn Quang B – là bố đẻ của chị Đoàn Thị H. Tòa án đã thông báo cho ông Đoàn Quang B cung cấp địa chỉ cụ thể của chị Đoàn Thị H ở Hồ N và yêu cầu ông Đoàn Quang B cho biết kết quả về việc ông Đoàn Quang B đã thông báo cho chị Đoàn Thị H để gửi lời khai đối với yêu cầu xin ly hôn của anh Hoàng Văn T cho Tòa án.
Tại Đơn đề nghị ngày 18/11/2024, ông Đoàn Quang B trình bày ông vẫn liên lạc qua điện thoại và mạng xã hội với chị Đoàn Thị H nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể chị H ở đâu. Ông đã thông báo cho chị H về yêu cầu của Tòa án tuy nhiên chị H không thực hiện việc cung cấp địa chỉ và gửi lời khai về cho Tòa án. Chị H đã biết việc anh T xin ly hôn và chị H đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của anh T, về con chung và tài sản chung, chị H xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quan điểm của ông Đoàn Quang B như sau: Về quan hệ hôn nhân: Ông B đề nghị Tòa án giải quyết cho anh T được ly hôn chị H theo quy định của pháp luật.
Tại Công văn số 4717/PA08(Đ1) ngày 13/12/2024 của Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an thành phố H thể hiện: Chị Đoàn Thị H đã xuất cảnh gần nhất ngày 22/02/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.
Tại phiên tòa, anh Hoàng Văn T và chị Đoàn Thị H đều vắng mặt, anh Hoàng Văn T xin xét xử vắng mặt.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa,
nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho anh Hoàng Văn T được ly hôn với chị Đoàn Thị H. Về con chung, anh T và chị H không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Về tài sản chung, anh T không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Bị đơn phải chịu án phí và các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Hoàng Văn T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Đoàn Thị H. Quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn”. Bị đơn là chị Đoàn Thị H có đăng ký hộ khẩu thường trú và có nơi cư trú cuối cùng ở thành phố Hải Phòng, hiện đang sinh sống ở Hồ N, nguyên đơn anh Hoàng Văn T hiện nay đang sinh sống tại thành phố Hải Phòng. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Anh Hoàng Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho chị Đoàn Thị H đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng chị Đoàn Thị H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Anh Hoàng Văn T và chị Đoàn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có giấy đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 25/5/2022. Theo Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp. Dù hai bên gia đình đã khuyên bảo, hòa giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thể hàn gắn. Vợ chồng ly thân đến
nay không còn liên lạc với nhau, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh T và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã ly thân trong một thời gian dài nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu của anh Hoàng Văn T về việc xin y hôn với chị Đoàn Thị H.
[4] Về con chung: Anh Hoàng Văn T và chị Đoàn Thị H không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Anh Hoàng Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Hoàng Văn T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Anh Hoàng Văn T và chị Đoàn Thị H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Văn T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn T được ly hôn với chị Đoàn Thị H.
2. Về con chung: Anh Hoàng Văn T và chị Đoàn Thị H không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung: Anh Hoàng Văn T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Hoàng Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0000851 ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự
thành phố Hải Phòng. Anh Hoàng Văn T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Anh Hoàng Văn T (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Chị Đoàn Thị H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thúy Hà |
|
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Cao Thị Hạ |
Nguyễn Thanh Hải |
Bùi Thị Thúy Hà |
DANH SÁCH GỬI THỪA PHÁT LẠI
(Bản án HNGĐST số 32/13.02.2025)
Niêm yết tại nhà và ủy ban cho:
- Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1981, nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng
Người gửi: Thư ký Trần Thị Thu H1 - sđt: 0966.287.xxx
DANH SÁCH GỬI THỪA PHÁT LẠI
(Bản án HNGĐST số 32/13.02.2025)
Niêm yết tại nhà và ủy ban cho:
- Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1981, nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng
Người gửi: Thư ký Trần Thị Thu H1 - sđt: 0966.287.xxx
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
