|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày: 11 - 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hà Thị Thuỷ
- Bà Lê Thị Mỹ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 355/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Hình Ích B, sinh ngày 10/12/1984.
Tại TP G, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: Số 12/12A đường Đ, khu phố 3, phường V, thành phố G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Hình Phước K (Đã chết) và bà Đặng Thị N (đã chết); Chị ruột có 07 người, Lớn nhất sinh năm 1969, nhỏ nhất sinh năm 1982; Vợ: Bùi Thị T, sinh năm 1988 (Không có đăng ký kết hôn); Con: Có 02 người, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Có 01 tiền sự.
Ngày 06/8/2023, bị Công an thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 2.500.000 đồng theo Quyết định số 410. Chưa thi hành Quyết định, chưa xóa tiền sự.
Về nhân thân:
+ Ngày 19/9/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 tháng 24 ngày tù về tội Đánh bạc tại bản án số 206, ngày 19/9/2023, đã chấp hành xong hình phạt, đã xóa án tích.
+ Ngày 05/5/2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), đã chấp hành xong hình phạt, đã xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/10/2024 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Lý Minh C, sinh năm 1972 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số 853 đường Đ, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị U, sinh năm 1961 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số 102 đường H1, phường V, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do không nghề nghiệp, cần tiền tiêu xài. Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 16/5/2024, Hình Ích B đi bộ trên đường Nguyễn Thị Định, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang để tìm tài sản lấy trộm. Khi B đi đến nhà số 853 đường Nguyễn Thị Định, khu phố Vĩnh Viễn, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Superdream, màu nâu, biển số: 68M6-0984 của anh Lý Minh C đậu trước cửa nhà, chìa khoá xe cắm trên ổ khoá. B quan sát xung quanh thấy không có người trông coi thì liền đi vào lấy trộm xe mô tô của anh C. Sau khi lấy trộm được xe, B điều khiển xe đến nhà của bà Bùi Thị U, địa chỉ số 102 đường Nguyễn Thoại Hầu, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang thế chấp cho bà U để mượn số tiền 2.100.000 đồng. Khi thế chấp, Bảy nói với bà U xe mô tô trên là của người nhà Bảy nên bà U đồng ý. Đến ngày 18/5/2024, bà U biết được xe mô tô B thế chấp là do B lấy trộm nên bà U mang xe đến giao nộp cho Công an phường Vĩnh Hiệp. Ngày 18/5/2024, Công an phường Vĩnh Hiệp mời B đến làm việc, quá trình làm việc B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. (bút lục số: 63-66, 71, 72, 74-76).
Đến ngày 17/07/2024, Hình Ích B bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố G khởi tố vụ án và bắt tạm giam bị cáo để điều tra.
Bị cáo Hình Ích B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Hình Ích B đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.
* Vật chứng trong vụ án: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Superdream, màu sơn: Nâu, dung tích: 97 cm3, số máy: 1313504, số khung: 013481, biển số: 68M6-0984, đã qua sử dụng, (bút lục số: 56).
* Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS, ngày 17 tháng 06 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá kết luận:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Superdream, màu sơn: Nâu, dung tích: 97 cm3, số máy: 1313504, số khung: 013481, biển số: 68M6-0984, đăng ký ngày 01/4/2010, đã qua sử dụng. Tại thời điểm ngày 16/5/2024, có giá trị là 9.333.000 đồng (Chín triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng), (bút lục số: 40-45).
Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKSRG, ngày 11 tháng 12 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Hình Ích B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá và bản cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hình Ích B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hình Ích B từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đã trả cho Lý Minh C: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Superdream, màu sơn: Nâu, dung tích: 97 cm3, số máy: 1313504, số khung: 013481, biển số: 68M6-0984, đăng ký ngày 01/4/2010, đã qua sử dụng.
Theo Quyết định xử lý vật chứng số 2587, ngày 01/08/2024 của Cơ quan sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, đề nghị không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lý Minh C đã nhận lại xe và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị U không yêu cầu trách nhiệm dân sự nên đề nghị không xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Hình Ích B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của những người tham gia tố tụng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 16/05/2024, tại nhà số 853 đường Đ, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang, B lén lút thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của ông Lý Minh C 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Superdream, màu sơn: Nâu, biển kiểm soát 68M6-0984. Qua định giá có giá trị 9.333.000 đồng (Chín triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Hình Ích B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như kết luận của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo là người thành niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo lợi dụng sự sơ hở của bị hại bất chấp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống gia đình bị hại, làm mất an ninh, trật tự ở địa phương và gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Qua xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, bị cáo có nhiều tiền án (được xóa án tích) và 01 tiền sự chưa được xoá tiền sự, bị cáo không lấy đó làm bài học mà nay lại tiếp tục phạm tội, hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo mức án tương xứng bằng hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đã cho thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp và thu nhập, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã trao trả vật chứng của vụ án là tài sản của Lý Minh C: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Superdream, màu sơn: Nâu, biển kiểm soát 68M6-0984, đã qua sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, không có ai khiếu nại về việc xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Lý Minh C đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị U không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền thế chấp xe nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đề nghị tại bản luận tội đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Đối với bà Bùi Thị U không biết tài sản bị cáo thế chấp để vay tiền là tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hình Ích B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Hình Ích B mức án 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 13/10/2024).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; buộc bị cáo Hình Ích B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/02/2025). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thùy Linh |
6
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G - TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G - TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 09 tháng tù
