Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST

Ngày 06-02-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Lực;

Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 479/2024/TLST–HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 273/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1980. Thường trú: số B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Hoàng T, sinh năm 1979. Thường trú: số B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 4 năm 2023, lời khai trong quá trình tổ tụng, nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày:

Bà Lê Thị N và ông Trần Hoàng T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương vào ngày 28/5/2008 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 46/08, quyển số 05 ngày 28/5/2008). Thời gian đầu hai vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, đến tháng 01/2018 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, ông T sống không có trách nhiệm với vợ con, thường xuyên đi uống rượu bia với bạn bè, khi đi uống rượu bia về nhà thì chửi bới, xúc phạm, đánh đập vợ con. Ông T không có việc làm ổn định, không kiếm thu nhập để nuôi con, lo cho gia đình, một mình bà N phải đi làm kiếm tiền lo toan mọi thứ trong gia đình. Khi mâu thuẫn xảy ra hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn, bà N đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng không có kết quả; hai bên gia đình không có ý kiến, để hai vợ chồng tự quyết định. Hai vợ chồng hiện đã sống ly thân. Hiện nay, bà N và các con thuê trọ ở đường số F, khu phố F, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Còn ông Trần Hoàng T đang sống tại nhà số B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là cháu Trần Thị Thùy L, sinh ngày 07/11/2011, cháu Trần Quang N1, sinh ngày 19/7/2019 và cháu Trần Quang T1, sinh ngày 05/01/2006. Cháu Trần Quang T1 đã trưởng thành nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà N đang làm công nhân tại Công ty C tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thu nhập khoảng 12.000.000 đồng/tháng. Với thu nhập khoảng 12.000.000 đồng/tháng bà N đủ khả năng chăm sóc cho 02 con phát triển bình thường. Hiện bà N không còn tình cảm gì đối với ông T, hai vợ chồng không còn quan hệ vợ chồng, đã sống ly thân, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Về hôn nhân: yêu cầu được ly hôn với ông Trần Hoàng T.
  2. Về con chung: Bà Lê Thị N yêu cầu được nuôi con chung là cháu Trần Thị Thùy L, sinh ngày 07/11/2011 và cháu Trần Quang N1, sinh ngày 19/7/2019. Bà Lê Thị N không yêu cầu ông Trần Hoàng T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập bị đơn ông Trần Hoàng T hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị N và ông Trần Hoàng T là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị N. Về con chung: đề nghị giao cháu Trần Thị Thùy L, sinh ngày 07/11/2011, cháu và cháu Trần Quang N1, sinh ngày 19/7/2019 cho bà Lê Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Trần Hoàng T không phải thực hiện cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị N khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Trần Hoàng T hiện nay đang sinh sống tại địa chỉ: số B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị N vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Trần Hoàng T vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Lê Thị N với bị đơn ông Trần Hoàng T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương vào ngày 28/5/2008 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 46/08, quyển số 05 ngày 28/5/2008 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà N trong thời gian chung sống giữa bà N và ông T thời gian đầu hai vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, đến tháng 01/2018 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, ông T sống không có trách nhiệm với vợ con, thường xuyên đi uống rượu bia với bạn bè, khi đi uống rượu bia về nhà thì chửi bới, xúc phạm, đánh đập vợ con. Ông T không có việc làm ổn định, không kiếm thu nhập để nuôi con, lo cho gia đình, một mình bà N phải đi làm kiếm tiền lo toan mọi thứ trong gia đình. Khi mâu thuẫn xảy ra hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn, bà N đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng không có kết quả; hai bên gia đình không có ý kiến, để hai vợ chồng tự quyết định. Hai vợ chồng hiện đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập bị đơn ông Trần Hoàng T tham gia tố tụng nhưng ông T vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc ông T vắng mặt không có lý do là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông T là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, bà N yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận.

[5] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là cháu Trần Thị Thùy L, sinh ngày 07/11/2011, cháu Trần Quang N1, sinh ngày 19/7/2019 và cháu Trần Quang T1, sinh ngày 05/01/2006. Cháu Trần Quang T1 đã trưởng thành nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, hiện nay cháu L và cháu N1 đang sống chung với bà N, bà N có việc làm, thu nhập ổn định đảm bảo đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu L và cháu N1 phát triển bình thường. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu L và cháu N1 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N về việc không yêu cầu ông T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

[8] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N đối với ông Trần Hoàng T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

    - Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị N được ly hôn với ông Trần Hoàng T (Giấy chứng nhận kết hôn số 46/08, quyển số 05 do Ủy ban nhân dân phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 28/5/2008).

    - Về con chung: Giao hai con chung cháu Trần Thị Thùy L, sinh ngày 07/11/2011 và cháu Trần Quang N1, sinh ngày 19/7/2019 cho bà Lê Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Trần Hoàng T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

    Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

    - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

  2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001546 ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - UBND phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (01);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn bà Lê Thị N với bị đơn ông Trần Hoàng T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger