Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM DƠI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/DS-ST

Ngày 04-02-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ý

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Kết

Ông Tạ Thanh Bự

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Chinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Ngô Trà My - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 684/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 487/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần P2. Địa chỉ: Số D và D đường L, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Diễm P, sinh năm 1996. Địa chỉ liên hệ: Số A, N, khóm A, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 20/8/2024) (có mặt).

- Bị đơn:

  1. Ông Lê Văn P1, sinh năm 1951 (vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1956 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Hoàng N, sinh năm 1980 (vắng mặt).
  2. Bà Trần Mạnh N1, sinh năm 1987 (vắng mặt).
  3. Cháu Lê Trần Phúc N2, sinh năm 2006 (vắng mặt).
  4. Ông Lê Văn M1, sinh năm 1981 (vắng mặt).
  5. Ông Lê Văn T, sinh năm 1976 (vắng mặt).
  6. Bà Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1980 (vắng mặt).
  7. Cháu Lê Tuyết L, sinh năm 2002 (vắng mặt).
  8. Cháu Lê Cẩm T1, sinh năm 2005 (vắng mặt).
  9. Cháu Lê Gia B, sinh ngày 27/9/2008 (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Lê Gia B: Ông Lê Văn T, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp N, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP P2 – Chi nhánh C (sau đây viết tắt là Ngân hàng) với ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M ký kết Hợp đồng tín dụng số 0229/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 30/6/2023 và Khế ước nhận nợ số 0229.02/2023/KUNN-OCB-CN ngày 08/01/2024 vay số tiền 1.500.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh nuôi trồng thủy sản, thời hạn vay 06 tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất trong hạn 03 tháng đầu tiên là 8,7%/năm, từ tháng thứ 04 trở đi áp dụng lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, lãi quá hạn 150% lãi suất trong hạn.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông P1, bà M đã ký Hợp đồng thế chấp số 0686/2020/BĐ ngày 14/12/2020 thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 0233, 0234, tờ bản đồ số 16, địa chỉ ấp N, xã T, huyện Đ, tỉnh Minh Hải, nay là xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 147786 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông P1 ngày 13/5/1994.

Trong quá trình vay vốn, ông P1, bà M không thanh toán tiền gốc mà chỉ thanh toán được số tiền lãi 60.439.997 đồng nên đã vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ làm việc nhưng ông P1, bà M không thực hiện nghĩa vụ. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 04/02/2025 là 1.651.131.122 đồng, trong đó nợ gốc 1.500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 11.736.715 đồng, nợ lãi quá hạn 139.394.407 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến ngày tất toán nợ vay. Buộc ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 05/02/2025. Trường hợp ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đúng theo quy định pháp luật nhưng các đương sự trên không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần P2, buộc ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M phải trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 04/02/2025 là 1.651.131.122 đồng. Buộc ông P1 và bà M phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày xét xử theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng tương ứng với số tiền nợ gốc và thời gian chậm trả cho đến khi thanh toán hết tất cả mọi khoản nợ. Trường hợp ông P1 và bà M không thanh toán khoản nợ trên thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 0233, 0234, tờ bản đồ số 16, diện tích 39.670m² địa chỉ ấp N, xã T, huyện Đ, tỉnh Minh Hải, nay là xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 147786 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 13/5/1994 đứng tên chủ sở hữu của ông Lê Văn P1 theo Hợp đồng thế chấp số 0686/2020/BĐ ngày 14/12/2020 được công chứng tại Văn phòng Công chứng Đất Mũi được xử lý theo quy định tại Điều 299, Điều 303 của Bộ luật Dân sự. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàng N, bà Trần Mạnh N1, cháu Lê Trần Phúc N2, ông Lê Văn M1, ông Lê Văn T, bà Nguyễn Ngọc Đ, cháu Lê Tuyết L, cháu Lê Cẩm T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[2] Về nội dung khởi kiện:

[2.1] Xét yêu cầu trả số tiền nợ 1.651.131.122 đồng của nguyên đơn thấy rằng: Hợp đồng tín dụng số 0229/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 30/6/2023 và Khế ước nhận nợ số 0229.02/2023/KUNN-OCB-CN ngày 08/01/2024 được xác lập giữa ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M với Ngân hàng trên tinh thần tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật, các đương sự không có tranh chấp về các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng nên các đương sự cùng có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.

Theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng thể hiện ông P1, bà M vay số tiền 1.500.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh nuôi trồng thủy sản, thời hạn vay 06 tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất trong hạn 03 tháng đầu tiên là 8,7%/năm, từ tháng thứ 04 trở đi áp dụng lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, lãi quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Trong quá trình vay vốn, ông P1, bà M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên cần buộc ông P1, bà M phải có nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng là phù hợp với quy định pháp luật.

[2.2] Về yêu cầu tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày tuyên án cho đến khi trả hết nợ, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của Ngân hàng phù hợp theo Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nên được chấp nhận.

[2.3] Xét yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ của Ngân hàng, thấy rằng: Để đảm bảo khoản vay, ông P1, bà M đã ký Hợp đồng thế chấp số 0686/2020/BĐ ngày 14/12/2020 thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 0233, 0234, tờ bản đồ số 16, địa chỉ ấp N, xã T, huyện Đ, tỉnh Minh Hải, nay là xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 147786 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông P1 ngày 13/5/1994.

Việc các bên xác lập hợp đồng thế chấp trên tinh thần tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định nên được công nhận. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp là phù hợp và đúng quy định.

[3] Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 04/02/2025 là 1.651.131.122 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến ngày tất toán nợ vay.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến nên xem như từ bỏ quyền của mình và cố tình trốn tránh nghĩa vụ với nguyên đơn. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do đang sinh sống trên phần đất thế chấp, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo quy định pháp luật nhưng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí và chi phí tố tụng:

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí, đã dự nộp được nhận lại toàn bộ, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 300.000 đồng nguyên đơn đã dự nộp nên buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn chi phí này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 158, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 292, 293, 299, 317, 318, 323, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần P2 về việc yêu cầu ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M thanh toán khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 0229/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 30/6/2023 và Khế ước nhận nợ số 0229.02/2023/KUNN-OCB-CN ngày 08/01/2024.

Buộc ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/02/2025 là 1.651.131.122 đồng (một tỷ sáu trăm năm mươi mốt triệu một trăm ba mươi mốt nghìn một trăm hai mươi hai) đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến ngày tất toán nợ vay.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (05/02/2025), khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng đã ký kết thì Ngân hàng Thương mại cổ phần P2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 0233, 0234, tờ bản đồ số 16, địa chỉ ấp N, xã T, huyện Đ, tỉnh Minh Hải, nay là xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 147786 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Lê Văn P1 ngày 13/5/1994.

- Về án phí và chi phí tố tụng:

Ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 61.533.934 (sáu mươi mốt triệu năm trăm ba mươi ba nghìn chín trăm ba mươi bốn) đồng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần P2 đã nộp tạm ứng án phí số tiền 29.109.000 (hai mươi chín triệu bảy một trăm lẻ chín nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0001972 ngày 18 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau được nhận lại.

Buộc ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P2 chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày Ngân hàng Thương mại cổ phần P2 có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, nếu ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M chậm thi hành đối với các khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Đầm Dơi;
  • - Chi cục THADS huyện Đầm Dơi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Ý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/DS-ST ngày 04/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 32/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng yêu cầu ông Lê Văn P1, bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 04/02/2025 là 1.651.131.122 đồng, trong đó nợ gốc 1.500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 11.736.715 đồng, nợ lãi quá hạn 139.394.407 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến ngày tất toán nợ vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger