Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04 - 02 - 2025

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia

đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.
  • Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Ông Trương Phước Công;
    2. Ông Nguyễn Văn Hồng.

Thư ký phiên tòa: Ông Võ Xuân Hoài, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 767/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1030/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1986; địa chỉ: số nhà F, khóm L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Bị đơn: Ông Phan Văn M, sinh năm 1988; địa chỉ: số nhà C, khu dân cư L, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị H trình bày, do tự tìm hiểu, bà H và ông M kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 05/5/2014. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh có 02 con chung tên Phan Thành P, sinh ngày 03/4/2014, Phan Huỳnh Kim N, sinh ngày 18/02/2021. Hiện tại, 02 con chung đang được bà H nuôi dưỡng.

Thời gian chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường hay cự cãi nhau. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 4 năm 2023 đến nay, thời gian này không lui tới thăm nhau.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông M; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi dạy con chung. Về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2014, quyển số 01/2014, ngày 05/5/2014 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho ông Phan Văn M và bà Huỳnh Thị H (bản chính); giấy khai sinh số 89 ngày 09/5/2014 do Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang cấp đối với Phan Thành P (bản sao); giấy khai sinh số 82 ngày 23/02/2021 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp đối với Phan Huỳnh Kim N (bản sao).

- Bị đơn ông Phan Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà H và ông M kết hôn, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông M hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thương xuyên cãi vã nhau. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 4 năm 2023 đến nay, thời gian này không lui tới thăm nhau.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu ly hôn với ông M. Bà H, ông M không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông M theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà H, giao 02 cháu P, N cho bà H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, do bà H không yêu cầu ông M cấp dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông M; bà H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung; ông M không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Bà Huỳnh Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với Phan Văn M. Đồng thời, ông M cư trú trên địa bàn huyện C. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Huỳnh Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Phan Văn M đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông M theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân:

Bà H và ông M tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông M là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Bà H xác định, trong thời gian chung sống đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, hay cãi vã nhau. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 4 năm 2023 đến nay, thời gian này không lui tới thăm nhau.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 4 năm 2023 đến nay, thời gian này không lui tới thăm nhau. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho ông M nhưng ông M không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà H. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà H, ông M là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông M theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Bà H xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 02 con chung tên Phan Thành P, sinh ngày 03/4/2014, Phan Huỳnh Kim N, sinh ngày 18/02/2021, hiện 02 con chung đang sinh sống với bà H, bà H yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung.

Xét thấy, con chung đang được bà H chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp các cháu phát triển tốt về thể chất, tinh thần. Đồng thời, theo biên bản ghi ý kiến ngày 02/12/2024 do cán bộ Tòa án lập, cháu P đã có nguyện vọng sống chung với mẹ (bà H) khi cha mẹ ly hôn, do đó Hội đồng xét xử giao con chung cho bà H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà H không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

[2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông M không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H.

  1. Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Phan Văn M.
  2. Về con chung: Bà Huỳnh Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Phan Thành P, sinh ngày 03/4/2014, Phan Huỳnh Kim N, sinh ngày 18/02/2021. Ông Phan Văn M không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Bà Huỳnh Thị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Phan Văn M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  1. Về án phí sơ thẩm:

Bà Huỳnh Thị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0023668 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 13 tháng 11 năm 2024; bà Huỳnh Thị H đã nộp đủ án phí.

Ông Phan Văn M không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

  1. Thời hạn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm của bà Huỳnh Thị H, ông Phan Văn M được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Chợ Mới (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1);
  • - UBND xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Diễm Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 04/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger