TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/11/2024 “V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tài Hòa, bà Nghiêm Thị Hiền.
Thư ký phiên toà: Bà Đào Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức P, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Khu B phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
Bị đơn: Chị Trần Thị Minh N, sinh năm 1977; Nơi đăng kí HKTT: Khu C phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn là anh Nguyễn Đức P trình bày: Anh và chị Trần Thị Minh N quen biết và tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2000 nhưng không đăng ký kết hôn. Anh chị chung sống tại khu B phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến 2004 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hiểu nhau, không hợp nhau. Anh chị không chung sống với nhau từ năm 2009 đến nay, không còn tình cảm, không quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Anh xác định không thể tiếp tục chung sống cùng chị N nên đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị N theo quy định của pháp luật.
Anh và chị N có 02 con chung là Nguyễn Hương L, sinh ngày 10/7/2001 và Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 05/10/2009. Chị N người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng L1. Cháu Nguyễn Hương L đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là chị Trần Thị Minh N công nhận lời trình bày của anh P về thời điểm chung sống, mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2009 đến nay. Chị và anh P không đăng kí kết hôn, không thể tiếp tục chung sống. Anh P xin ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Chị đồng ý về con chung như anh P trình bày. Chị và anh P không có tài sản chung, không vay nợ ai và không ai vay nợ chung.
Tại phiên tòa, anh P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị N. Chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 05/10/2009, cháu Nguyễn Hương L đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, công nợ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là chị Trần Thị Minh N có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử kể từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến phần tranh luận tại phiên toà là đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, 35, 39, 58, 165, 195 và Điều 232 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức P. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Đức P và chị Trần Thị Minh N.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 05/10/2009 cho chị Trần Thị Minh N nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không xem xét giải quyết. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh P phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh P có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn, con chung nên đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Bị đơn là chị Trần Thị Minh N có nơi cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.
Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn là chị Trần Thị Minh N vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt chị N.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đức P và chị Trần Thị Minh N quen biết và chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2000 nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quá trình chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến 2004 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hiểu nhau, không hợp nhau. Anh chị đã không còn chung sống với nhau từ năm 2009 đến nay. Việc anh P và chị N chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn đã vi phạm quy định về đăng ký kết hôn tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình nên quan hệ hôn nhân này không được công nhận. Anh P có đơn xin ly hôn chị N, căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh P tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Đức P và chị Trần Thị Minh N.
Về con chung: Anh P và chị N có 02 con chung là Nguyễn Hương L, sinh ngày 10/7/2001 và Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 05/10/2009. Cháu Nguyễn Hương L đã trưởng thành, anh chị không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Cháu Nguyễn Hoàng L1 có nguyện vọng tiếp tục ở với mẹ, anh P chị N cũng đồng ý để cháu L1 ở với mẹ nên giao cháu L1 cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con và thỏa thuận của các đương sự. Về cấp dưỡng nuôi con các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Anh P và chị N xác nhận không có và không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Anh P phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 8, Điều 9, khoản 2 Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội.
Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Đức P và chị Trần Thị Minh N.
Về con chung: Chị Trần Thị Minh N nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 05/10/2009. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.
Án phí: Anh P phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo tại biên lai thu số 0002498 ngày 15/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong. Anh P đã nộp đủ tiền án phí.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hồng Thanh |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức P và Trần Thị Minh N không công nhận quan hệ hôn nhân
