TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/DS-ST
Ngày 29 tháng 11 năm 2024
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Nữ Hương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Thái và bà Lê Thị Bích Thuần.
Thư ký phiên toà: Bà Khổng Thị Đức Hậu- Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Phó Văn Lợi- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2024/TLST-KDTM ngày 26 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST- DS ngày 12 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QÐST- DS ngày 12/11/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q1; địa chỉ: Tầng A và tầng B tòa nhà S; số A P; phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V; Chức danh: Tổng Giám đốc; đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hải Đ- Giám đốc xử lý nợ Ngoại bảng, trung tâm quản lý nợ Ngân hàng bán lẻ; người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Văn Q- Cán bộ Ngân hàng TMCP Q1 (Văn bản ủy quyền số 104/GUQ ngày 27/02/2024), có mặt.
Bị đơn:
-Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/9/2022 và quá trình tố tụng, người được ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Q trình bày:
Ngày 07/5/2019, Ngân hàng TMCP Q1 và anh Nguyễn Văn T ký hợp đồng tín dụng số 1091574.19, theo đó Ngân hàng cho anh T vay số tiền là 230.000.000₫ (hai trăm ba mươi triệu đồng). Thời hạn vay 84 tháng kể từ ngày 08/5/2019 đến ngày 07/5/2026, lãi suất vay tại thời điểm giải ngân là 9,2%/năm chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân. Hết thời hạn nêu trên lãi suất sẽ điều chỉnh 03 tháng/lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/năm. H nợ trả gốc vào ngày 05 hàng tháng, mỗi tháng trả 2.738.000 đồng, số còn lại trả khi đến hạn. Ngày trả nợ đầu tiên là ngày 05/6/2019, ngày trả lãi vào ngày 05 hàng tháng theo dư nợ thực tế phát sinh; trả phí theo quy định của Ngân hàng từng thời kỳ. Mục đích vay thanh toán mua xe ô tô nhãn hiệu Kia morning. Tài sản thế chấp là 01 xe ô tô con 05 chỗ nhãn hiệu Kia morning biển kiểm soát 88A- 265.67
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T đã trả được cho Ngân hàng số tiền là 54.126.759 đồng (trong đó tiền gốc là 35.594.000 đồng; tiền lãi là 18.532.759 đồng).
Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 29/11/2024 là 372.290.880 đồng (trong đó số tiền gốc là 194.406.000 đồng, số tiền lãi trong hạn là 77.346.377 đồng; lãi quá hạn là 101.538.503 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 30/11/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trường hợp anh Nguyễn Văn T không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền nợ nêu trên thì Ngân hàng không đề nghị xử lý đối với tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô biển kiểm soát 88A- 265.67 trong vụ án này, việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ thực hiện theo quy định pháp luật.
* Bị đơn, anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình tố tụng, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Văn T nhưng do anh T vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành lấy được lời khai của anh T và cũng không tiến hành hòa giải được.
Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú của anh T thể hiện: Anh T cư trú cùng bố mẹ đẻ anh T là ông Nguyễn Thế N, bà Nguyễn Thị N1 ở tại tổ dân phố N, thị trấn H, huyện B và vẫn thường xuyên về nhà.
Tòa án tiến hành xác minh tại Công an thị trấn H, huyện B cung cấp: Anh Nguyễn Văn T đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố N, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
Do Ngân hàng không đề nghị Tòa án xử lý đối với tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô biển kiểm soát 88A- 265.67 trong vụ án này nên Tòa án không tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên phát biểu quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng mọi trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ theo giấy triệu tập của Tòa án.
Bị đơn không chấp hành đầy đủ theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 317, 318, 323, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 94, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí buộc bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm đầy đủ các thủ tục vắng mặt đối với anh T. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử.
[2] Về quan hệ pháp luật: Hai bên ký kết hợp đồng tín dụng với mục đích để mua xe ô tô phục vụ nhu cầu đi lại nên đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về áp dụng pháp luật: Giao dịch vay tài sản giữa các bên phát sinh trong lĩnh vực hoạt động tín dụng, thời điểm ký kết hợp đồng là tháng 5/2019 nên pháp luật được áp dụng giải quyết trong vụ án là Bộ luật dân sự năm 2015; Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
[4] Về nội dung vụ án:
Ngày 07/5/2019 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 và anh Nguyễn Văn T ký kết Hợp đồng tín dụng số: 1091574.19. Theo đó, Ngân hàng đã cho anh Nguyễn Văn T vay vốn, cụ thể: Số tiền vay là 230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng); Thời hạn vay vốn: 84 tháng kể từ ngày 08/5/2019 đến ngày 07/5/2026; Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9,2%/năm; Mục đích vay: Mua xe ô tô nhãn hiệu Kia morning để phục vụ cho nhu cầu đi lại.
Để đảm bảo cho khoản vay trên: Ngày 07 tháng 5 năm 2019, Ngân hàng và anh Nguyễn Văn T đã ký kết Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 8510767.19, tài sản đảm bảo là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia morning.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T đã trả được cho Ngân hàng số tiền là 54.126.759 đồng (trong đó tiền gốc là 35.594.000 đồng; tiền lãi là 18.532.795 đồng).
Tính đến ngày 29/11/2024, anh T còn nợ Ngân hàng số tiền là 373.290.800 đồng (trong đó tiền gốc là 194.406.000 đồng, tiền lãi là 77.346.377 đồng; lãi quá hạn là 101.538.503 đồng).
Xét thấy việc vay nợ giữa Ngân hàng với anh Nguyễn Văn T được ký kết bằng hợp đồng tín dụng số 1091574.19 ngày 07/5/2019 và hợp đồng thế chấp tài sản số 8510767.19. Xét về hình thức và nội dung của Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp mà các bên ký kết đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, hợp đồng được công chứng tại văn phòng C.
Do anh T vắng mặt không có lý do nên Tòa án không lấy được lời khai của anh T, anh T cũng không có bản tự khai thể hiện quan điểm về việc khởi kiện của Ngân hàng gửi Tòa án. Mặc dù thời hạn cho vay là 84 tháng, tức là đến ngày 07/5/2026 mới đến hạn trả nợ cuối cùng nhưng bản thân anh T vi phạm nghĩa vụ trả nợ các kỳ cho Ngân hàng. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng với anh T vì theo quy định tại điểm a khoản 4.3 Điều 4 của điều khoản và điều kiện cấp tín dụng mà các bên đã ký kết thì: “Trường hợp bên được cấp tín dụng không thanh toán bất kỳ số dư nợ gốc nào đến hạn theo tài liệu vay vốn và không được V1 chấp thuận cơ cấu lại thời hạn trả nợ, V1 có quyền quyết định chuyển số dư nợ gốc đó sang nợ quá hạn và thực hiện ngay các biện pháp thu hồi nợ phù hợp với quy định của pháp luật”.
Vì vậy, buộc anh Nguyễn Văn T phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 tổng số tiền tính đến ngày 29/11/2024 là 373.290.880 đồng (trong đó nợ gốc là 194.406.000 đồng đồng; lãi trong hạn 77.346.377 đồng, lãi quá hạn 101.538.503 đồng).
Đối với tài sản thế chấp là chiếc ô tô nhãn hiệu Kia morning Ngân hàng không đề nghị phải xử lý tài sản thế chấp trong vụ án này trong trường hợp anh T không trả được nợ nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí Dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí theo giá ngạch đối với nghĩa vụ phải thực hiện là 373.290.880 x 5% = 18.664.544 đồng (làm tròn 18.664.000 đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 322, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91; khoản 4 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 đối với anh Nguyễn Văn T.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Văn T phải chịu 18.664.000 đồng. Hoàn trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 số tiền tạm ứng án phí là 6.617.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002389 ngày 23/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Buộc anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 số tiền gốc và lãi tính đến ngày 29/11/2024 là 373.290.880 đồng (trong đó nợ gốc là 194.406.000 đồng; lãi trong hạn 77.346.377 đồng, lãi quá hạn 101.538.503 đồng theo hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 với anh Nguyễn Văn T.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Nữ Hương Huyền |
Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 32/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tchd
