|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/HS-ST
Ngày 28 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Chúc và bà Cầm Thị Đoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 31/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:
Lò Ngọc Đ, sinh ngày: 24/4/1986 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn H và bà Tống Thị P; bị cáo có vợ là Hoàng Thị Đ1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2024 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Ông Lường Văn T - Sinh năm: 1981. Nơi cư trú: Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lò Văn H1 - Sinh năm: 1980. Nơi cư trú: Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La, vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Lò Văn T1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 28/9/2024, Lò Ngọc Đ cùng với Lò Văn T1, Lò Văn H2, Lò Văn H1 ăn cơm uống rượu tại lán nương của Lò Văn H1. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày mọi người ăn uống xong, H1 ngủ tại lán nương, H2 đi về nhà ngủ còn Đ và T1 đi về lán nương của T1 tiếp tục uống rượu đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì T1 ngủ tại lán nương, còn Đ lấy đèn pin để đi soi cua ở khu vực suối, khi Đ đi qua khu vực ruộng của nhà Đ và nhà T1 thì nhìn thấy một con bò đực 05 tháng tuổi, lông màu đen khoảng 40kg của anh Lường Văn T, sinh năm: 1981, trú cùng tiểu khu đang nằm tại ruộng. Quan sát không thấy có ai nên Đ nảy sinh ý định giết thịt con bò để lấy thịt ăn dần. Sau đó, Đ đi đến lán nương của Lò Văn H1 lấy một chiếc búa và một con dao nhọn để ở khu vực phía sau bếp của lán, quay xuống khu vực con bò đang nằm rồi dùng búa đập hai phát vào gáy của con bò làm con bò ngất đi, Đ kéo con bò vào trong vườn cây dong của Lò Văn T1. Sau đó Đ đi đến lán nương của T1 lấy các túi nilon và bao tải rồi Đ quay lại chỗ con bò dùng dao chọc tiết mổ bụng con bò lấy nội tạng, cắt phần đầu, chân, thân và 4 đùi thành nhiều phần cho vào các túi nilon và bao tải rồi buộc lại. Sau đó mang bao tải đựng thịt bò sang nương cây dong của Lò Văn H1 cất giấu mục đích hôm sau lấy về để ăn dần. Phần nội tạng của con bò Đ đem đến khu vực rãnh nước cắt lấy mỗi bộ phận một ít rồi rửa đem về nhà, phần còn lại Đ vứt ở rãnh nước. Sau đó Đ mang chỗ nội tạng đã làm mang về nhà Đ nấu chín, rồi mang đến lán của T1 và gọi anh T1 dậy uống rượu tiếp.
Sau khi phát hiện bị mất bò, Lường Văn T đã tìm kiếm phát hiện tại nương cây dong của gia đình Lò Văn H1 có 01 bao tải đựng phần dầu, 4 chân và phần thân đùi bò là thịt con bò của gia đình bị mất nên T có đơn trình báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M.
Ngày 02/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M định giá đối với 01 con bò đực 05 tháng tuổi, lông màu đen, trên đầu không có sừng, khối lượng khoảng 40kg. Tại kết luận định giá tài sản số định giá tài sản số 26 ngày 02/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: "01 con bò đực 05 tháng tuổi, lông màu đen, trên đầu không có sừng, khối lượng khoảng 40kg tại thời điểm định giá là 4.800.000 đồng".
Ngày 02/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ án tại khu vực giáp ranh giữa đất ruộng của Lò Ngọc Đ và Lò Văn T1; Phía Bắc giáp đường dân sinh thuộc tiểu khu C, phía Đông giáp nương nhà Lò Văn H1; Phía Tây giáp nương nhà Lường Văn T, phía Nam giáp nương Lò Đức T2.
- + Vị trí số 1: Xác định vị trí nơi cột, chăn thả bò tại bãi đất trống thuộc khu vực nương giáp ranh giữa nương của Lò Ngọc Đ và Lò Văn H1, cách mép đường dân sinh 29m, cách nương của Lò Đức T2 là 5,6m.
- + Vị trí số 2: Nương dong nhà Lường Văn T xác định vị trí Lò Ngọc Đ giết mổ, xẻ thịt bò, cách đường dân sinh 16m, cách vị trí số 1 là 70m.
- + Vị trí số 3: Nương trồng cây dong của Lò Văn H1 xác định Lò Ngọc Đ cất giấu phần thịt bò sau khi đã mổ lấy bộ lòng, cách mép đường dân sinh 5m, cách vị trí số 2 là 19m, cách vị trí số 1 là 89m.
- + Vị trí số 4: Rãnh thoát nước rộng 50cm, sâu 70cm vị trí Đ rửa lòng bò, cách vị trí số 3 là 5,3m, cách đường dân sinh trái 1,6m, cách mép đường phải 1,8m.
Quá trình khám nghiệm không phát hiện thu giữ gì. Ngày 03/10/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại phần thịt bò cho Lường Văn T.
Ngày 30/9/2024, Công an thị trấn N, huyện M tạm giữ của Lường Văn T: 01 chiếc bao tải màu trắng có dòng chữ in hoa SUPP màu đỏ, trên bề mặt bám dính nhiều vết loang màu nâu đỏ kích thước dài, rộng 90 x 50cm; 01 túi nilon màu trắng không xác định được hình thù trên bề mặt túi bám dính nhiều vết loang màu nâu đỏ.
Tạm giữ của Lò Ngọc Đ: 01 chiếc búa bằng kim loại chiều dài 33 cm, đầu búa có kích thước 10 x 04cm, tay cầm bằng kim loại kích thước 29 x 01 cm; 01 con dao mũi nhọn bằng kim loại có tay cầm bằng gỗ dài 36cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 23cm một cạnh sắc.
Về bồi thường dân sự: Ngày 10/10/2024 Lò Ngọc Đ đã bồi thường số tiền 4.800.000 đồng cho Lường Văn T, T không yêu cầu bồi thường gì khác.
Tại phiên tòa bị cáo Lò Ngọc Đ trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Cáo trạng số 188/CT-VKS ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Lò Ngọc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Ngọc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lò Ngọc Đ từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, về bồi thường dân sự:
Ghi nhận việc bị cáo Lò Ngọc Đ đã tự nguyện bồi thường cho ông Lường Văn T số tiền là 4.800.000 đồng (Bốn triệu, tám trăm nghìn đồng), ông T không yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Ghi nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả 25kg thịt bò còn lại sau khi đã giết mổ cho Lường Văn T.
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc búa bằng kim loại chiều dài 33cm, đầu búa có kích thước 10x04cm, tay cầm bằng kim loại kích thước 29x01cm; 01 con dao mũi nhọn bằng kim loại có tay cầm bằng gỗ dài 36cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 23cm một cạnh sắc; 01 chiếc bao tải màu trắng có dòng chữ in hoa SUPP màu đỏ, trên bề mặt bám dính nhiều vết loang màu nâu đỏ kích thước dài, rộng 90 x 50cm; 01 túi nilon màu trắng không xác định được hình thù trên bề mặt túi bám dính nhiều vết loang màu nâu đỏ.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo ; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại Lường Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Văn H1 đều có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa; người làm chứng Lò Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng đã có lời khai ở Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo. Việc vắng mặt của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lò Ngọc Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, Lò Ngọc Đ đã lợi dụng đêm tối không có người trông coi, quản lý chăn nuôi bò nên bị cáo đã chiếm đoạt 01 con bò của anh Lường Văn T để giết lấy thịt ăn. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với đơn trình báo của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của anh Lường Văn T, ngày 28/9/2024 bị cáo Lò Ngọc Đ đã có hành vi lén lút bí mật trộm cắp 01 con bò đực 05 tháng tuổi trị giá 4.800.000 đồng của Lường Văn T mổ giết thịt mục đích mang về ăn dần thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Lò Ngọc Đ không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.
Bị cáo Lò Ngọc Đ là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được các quy định của pháp luật. Tuy nhiên với bản chất lười lao động, nghiện rượu, chỉ vì muốn có thức ăn để uống rượu nên bị cáo đã lợi dụng đêm tối, sơ hở, thiếu cảnh giác của chủ tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo sống chung với gia đình, không có tài sản có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về bồi thường dân sự:
Ông Lường Văn T yêu cầu bị cáo Lò Ngọc Đ bồi thường số tiền là 4.800.000 đồng là giá trị con bò. Bị cáo Lò Ngọc Đ2 nhất trí và đã bồi thường số tiền 4.800.000 đồng cho anh Lường Văn T. Ông T không yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác.
[6] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 25kg thịt bò còn lại sau khi đã giết mổ là thịt bò bị trộm cắp của Lường Văn T, xét thấy việc trả lại không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án. Ngày 03/10/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả cho bị hại Lường Văn T áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự là có căn cứ cần ghi nhận.
Đối với 01 chiếc búa bằng kim loại chiều dài 33cm, đầu búa có kích thước 10x04cm, tay cầm bằng kim loại kích thước 29x01cm; 01 con dao mũi nhọn bằng kim loại có tay cầm bằng gỗ dài 36cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 23cm một cạnh sắc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lò Văn H1 đã có ý kiến đề nghị không xin lại để sử dụng và xét thấy là vật không có giá trị sử dụng ap dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 chiếc bao tải màu trắng có dòng chữ in hoa SUPP màu đỏ, trên bề mặt bám dính nhiều vết loang màu nâu đỏ kích thước dài, rộng 90 x 50cm; 01 túi nilon màu trắng không xác định được hình thù trên bề mặt túi bám dính nhiều vết loang màu nâu đỏ, xét thấy là vật không có giá trị sử dụng. Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo Lò Ngọc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[9] Về các vấn đề khác:
Đối với Lò Văn T1 và Lò Văn H1 không liên quan đến việc trộm cắp tài sản nên không đề cập đến việc xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Ngọc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lò Ngọc Đ 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, về bồi thường dân sự:
Ghi nhận việc bị cáo Lò Ngọc Đ đã tự nguyện bồi thường cho ông Lường Văn T số tiền là 4.800.000 đồng (Bốn triệu, tám trăm nghìn đồng), ông T không yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Ghi nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả 25kg thịt bò còn lại sau khi đã giết mổ cho Lường Văn T.
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc búa bằng kim loại chiều dài 33cm, đầu búa có kích thước 10x04cm, tay cầm bằng kim loại kích thước 29x01cm và 01 con dao mũi nhọn bằng kim loại có tay cầm bằng gỗ dài 36cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 23cm một cạnh sắc của ông Lò Văn H1; 01 chiếc bao tải màu trắng có dòng chữ in hoa SUPP màu đỏ, trên bề mặt bám dính nhiều vết loang màu nâu đỏ kích thước dài, rộng 90 x 50cm; 01 túi nilon màu trắng không xác định được hình thù trên bề mặt túi bám dính nhiều vết loang màu nâu đỏ.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 21/BBVC-CCTHA ngày 01/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Châu).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí: Buộc bị cáo Lò Ngọc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 28/11/2024).
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Tăng Thị Hải Oanh |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Ngọc Đ trộm cắp tài sản
