Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG PHÚ

TỈNH SÓC TRĂNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 22/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Thạch Hoàng Tha

Ông Trà Minh Châu

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Gia Mẫn-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Cao Trương Minh Đức-Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Nhà Văn hóa xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Nhật T, sinh ngày 15/12/2005 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Số G đường P, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Nhựt H và bà Dương Thị Thu L; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 11/4/2024 cho đến nay. (có mặt)

2. Bùi Dương Nhật L1, sinh ngày 02/6/2005 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Số G ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Minh Q và bà Dương Thị Trúc P; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 11/4/2024 cho đến nay. (có mặt)

Người chứng kiến: Ông Lý Thanh B, sinh năm 1990; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Nhật T và Bùi Dương Nhật L1 là bạn bè và thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy.

Vào ngày 10/4/2024, Tín điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 95H1-056.28 đến nhà T để nhậu. Đến khoảng 00 giờ ngày 11/4/2024 thì cả hai nghỉ và cùng rủ đi về thị trấn Đ, huyện L nhậu tiếp. T điều khiển xe chở L1 đi về thị trấn Đ. Trên đường đi khi đến khu vực vòng xoay giao nhau giữa đường P và Trần Hưng Đ, thành phố S thì T gặp một nam thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) là người quen với T nên T dừng xe lại để nói chuyện. Lúc này, nam thanh niên hỏi T “lúc này có đi chơi không” thì T trả lời “có”. Sau đó, nam thanh niên đưa cho T 02 túi ny long (01 túi nylon bên trong, một đầu kẹp, có viền màu xanh được kẹp kín, bên trong có chứa 03 viên nén màu xám và 01 túi nylon trong, đầu kẹp, có viền màu xanh được kẹp kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng). Biết là ma túy nên T đồng ý nhận nhưng do T đang điều khiển xe nên L1 nhận ma túy và cầm trên tay trái. T tiếp tục điều khiển xe chở L1 đi về thị trấn Đ, huyện L, khi đang lưu thông trên Quốc lộ F đến khu vực ấp T, xã T, huyện L thì bị lực lượng Công an tỉnh S kiểm tra phát hiện T và L1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Tại Kết luận Giám định số 57/KLMT-KTHS ngày 18/4/2002 của Phòng K1-Công an tỉnh S, kết luận: Gói 01: mẫu viên nén màu xám được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 1,0490 gam, loại MDMA; Gói 02: mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 2,2647 gam, loại Ketamine.

Tại Cáo trạng số 35/CT-VKS-LP ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú đã truy tố các bị cáo Lê Nhật T và Bùi Dương Nhật L1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Các bị cáo Lê Nhật T và Bùi Dương Nhật L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo T và L1, đề nghị xử phạt các bị cáo từ 01 năm đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng của vụ án: áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nylon trong, có khối lượng hoàn lại sau giám định là 0,5604 gam, đầu kẹp, có viền màu xanh được kẹp kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng là chất ma túy; 01 túi nylon trong, có khối lượng hoàn lại sau giám định là 2,1481 gam, đầu kẹp, có viền màu xanh được kẹp kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng là chất ma túy.

Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng tội, không oan sai cho các bị cáo. Các bị cáo trình bày lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 00 giờ ngày 11/4/2024, khi bị cáo Tín điều K xe mô tô biển kiểm soát số 95H1-056.28 chở L1 đi đến khu vực vòng xoay giao nhau giữa đường P và đường T, thành phố S thì T gặp một người thanh niên đưa cho T 02 túi nylon bên trong là ma túy, nhưng do lúc này T là người điều khiển xe nên L1 là người nhận ma túy cầm trên tay rồi cả hai điều khiển xe đi về thị trấn Đ, huyện L. Khi đi đến khu vực ấp T, xã T, huyện L thì bị công an bắt quả tang. Qua giám định là ma túy gồm 1,0490 gam loại MDMA và 2,2647 gam loại Ketamine. Tổng khối lượng ma túy của cả hai loại là 3,3137 gam.

Hành vi của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Lê Nhật T và Bùi Dương Nhật L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Mặc dù các bị cáo đã cùng thống nhất thực hiện hành vi phạm tội nhưng giữa các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Vai trò cụ thể của từng bị cáo như sau:

Đối với bị cáo Lê Nhật T là có vai trò chính trong vụ án, chính bị cáo là người trực tiếp nhận ma túy về cất giấu nhằm mục đích sử dụng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo L1 là phù hợp.

Đối với bị cáo Bùi Dương Nhật L1 là một đồng phạm với vai trò là người giúp sức tích cực, mặc dù biết rõ là ma túy nhưng bị cáo L1 đã thống nhất ý chí cố ý giữ hộ ma túy giùm cho bị cáo T nên cần có mức hình phạt nghiêm là phù hợp.

Từ hành vi và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra, cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo thì mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4]. Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo, cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng,

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo. Do đó, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5]. Đối với người thanh niên đã cho bị cáo T ma túy do không rõ họ tên và nơi cư trú cụ thể nên Cơ quan Điều tra chưa làm việc được. Đề nghị Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.

[6]. Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với 02 túi nylon là của các bị cáo dùng làm công cụ cất giấu ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Xét lời đề nghị Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về hình phạt cần xử phạt các bị cáo ở mức đề nghị như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.

Qua đó, cũng đảm bảo được công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cũng như góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống và trấn áp tội phạm đặc biệt là các tội phạm về ma túy ngày càng gia tăng ở địa phương.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Lê Nhật T và Bùi Dương Nhật L1.

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Nhật T và Bùi Dương Nhật L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Xử phạt bị cáo Lê Nhật T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 4 năm 2024.
  2. Xử phạt bị cáo Bùi Dương Nhật L1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 4 năm 2024.
  3. Về xử lý vật chứng của vụ án: căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nylon trong, có khối lượng hoàn lại sau giám định là 0,5604 gam, đầu kẹp, có viền màu xanh được kẹp kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng là chất ma túy; 01 túi nylon trong, có khối lượng hoàn lại sau giám định là 2,1481 gam, đầu kẹp, có viền màu xanh được kẹp kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng là chất ma túy.

    (Theo Phiếu Nhập Kho số NK02 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện L, tỉnh Sóc Trăng)

  4. Về án phí sơ thẩm: căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng là án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Long Phú;
  • - Công an huyện Long Phú (HSNV);
  • - CQTHAHS-CA huyện Long Phú;
  • - Chi cục THADS huyện L;
  • - UBND Phường 2, TP. S;
  • - UBND xã Đ, huyện L
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Bảo Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Lê Nhật T và Bùi Dương Nhật L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger