TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày 24-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Công Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lô Thị Diễn; 2. Bà Lê Thị Bảy.
- Thư ký phiên toà: Bà Lô Thị Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa: Ông Lê Hồng Ngoạn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 09 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Đào Văn T; Sinh ngày: 01 tháng 7 năm 1985, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đào Ngọc T1 và bà Nguyễn Thị T2 (đã chết); Có vợ là Trần Thị D và bị cáo có 03 con, (con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2023); Tiền án, tiền sự: không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 27/6/2024 đến nay (có mặt).
- Bị hại: Anh Trần Xuân T3; Sinh năm 1974 (Đã chết).
Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Anh Trần Xuân S; Sinh năm: 1999; Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Võ Quốc H - sinh năm: 1980; Nơi cư trú: Chung Cư S, Quận H, TP Hà Nội (vắng mặt).
- Người Làm chứng: Chị Bùi Thị B; Sinh năm: 1966; Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Rạng sáng ngày 17/5/2024, Đào Văn T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 36H-057.44 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 36R-032.34 chở thức ăn chăn nuôi (bột cám lợn) xuất phát từ Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa đến trang trại chăn nuôi lợn ở xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày khi xe ô tô đầu kéo do T điều khiển đang lưu thông trên đường H theo hướng từ Bắc vào N, đến Km 590 + 870,6 đoạn đường dốc thuộc thôn Đ, xã T, huyện N, với tốc độ khoảng hơn 50 km/giờ thì gặp một xe ô tô đầu kéo lưu thông ngược chiều, T sử dụng đèn chiếu gần để tránh xe ngược chiều, nhưng không giảm tốc độ, sau khi hai xe vừa đi qua nhau, T sử dụng đèn chiếu xa phát hiện phía trước đầu xe của mình có 01 chướng ngại vật mầu đỏ, nhưng T nghĩ đó là bao tải, nên vẫn duy trì tốc độ. Khi khoảng cách còn khoảng 25 mét thì T mới phát hiện ra chướng ngại vật phía trước là một người đàn ông đang ngồi bệt dưới lòng đường bên phải, thuộc phần đường lưu thông của ô tô do T điều khiển, nên T đạp phanh, đánh lái hết về phần đường bên phải theo chiều di chuyển của mình nhưng do đoạn đường đang xuôi dốc, khoảng cách gần, tốc độ nhanh, phương tiện chở hàng nặng nên T không thể xử trí kịp, dẫn đến phần đầu xe ô tô (tương ứng với mặt trước ngoài bên trái ba-đờ-sốc trước) của T điều khiển đâm vào người đàn ông khi đó vẫn đang ngồi dưới lòng đường, gây tai nạn giao thông. Hậu quả làm nạn nhân tử vong tại chỗ. Sau khi gây tai nạn, T đã tự hỏi đường tìm đến Công an xã T trình báo. Nạn nhân được xác định là Trần Xuân T3, sinh năm 1974 địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Tại thời điểm điều khiển phương tiện tham gia giao thông, gây ra tai nạn, lái xe Đào Văn T được xác định không xử dụng cồn và các chất ma túy.
Sau khi tai nạn xẩy ra Cơ quan điều tra đã tiến hành thu thập chứng cứ, khám nghiệm hiện trường, trưng cầu khám nghiệm tử thi, trưng cầu khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông.
Xác định hiện trường vụ án tại Km 590 + 870,6 đường H, thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Mặt đường trải nhựa, dốc xuôi về hướng đi Nghệ An, lòng đường rộng 6,93 mét, tim đường có vạch kẻ mầu vàng đứt đoạn, hai bên có vạch kẻ lề đường mầu trắng, và hệ thống rãnh thoát nước. Hiện trường để lại các dấu vết được ghi nhận như sau:
- 01 hệ thống vết tỳ trượt không liên tục, trên mặt đường, bề mặt vết bán dính chất mầu đen (dạng cao su) ký hiệu số (1) gồm 02 vết ký hiệu P1 và P2 song song nhau, dài 95,6 mét; đầu vết cách mét đường chuẩn 0,55 mét, cuối vết tương ứng với hàng lốp thứ 2 bên phải từ sau về trước của rơ moóc BKS 36R-032.34.
- Cách đầu vết (1) 12,55 mét hướng đi Nghệ An là hệ thống vết tỳ trượt không liên tục, trên mặt đường, bề mặt vết bán dính chất mầu đen (dạng cao su) ký hiệu số (2) gồm 02 vết ký hiệu P3 và P4 song song nhau, dài 82,6 mét; đầu vết cách mét đường chuẩn 2,15 mét, cuối vết tương ứng với hàng lốp thứ 2 bên trái từ sau về trước của rơ moóc BKS 36R-032.34.
- Cách đầu vết (2) 14,3 mét hướng đi Nghệ An là dấu vết gồm các tổ chức da mô, chất dịch mầu nâu nhạt (dạng tổ chức cơ thể người) ký hiệu số (3) kích thước trong diện (1,3 x 1,4)mét. Đầu vết cách mép đường chuẩn 1,7 mét.
- Cách đầu vết (3) 3,2 mét hướng đi Nghệ An là vị trí đỉnh đầu tử thi Trần Xuân T3 ký hiệu số (4) tử thi nằm sấp, mạc áo mầu đỏ, quần dài mầu xám; vùng đầu, tay phải và chân phải bị dập, rách da, vỡ sọ; sung quanh tử thi và dọc theo vết tỳ trượt 02 có các tổ chức da, máu, xương sọ vương vãi trên mặt đường.
Ngoài ra khám nghiệm hiện trường còn ghi nhận các túi ni lông, dép vương vãi để lại trên mặt đường (Quá trình khám nghiệm hiện trường có chụp ảnh, vẽ sơ đồ).
Bản kết luận giám định tử thi đối với Trần Xuân T3 số 2130/KLGĐTT-PC09 ngày 31/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết: Đa chấn thương.
Bản kết luận giám định phương tiện số 2134/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
1. Dấu vết ghi nhận tại mặt trước ngoài bên trái ba-đờ-sốc trước, ốp nhựa cụm đèn sương mù phía trước bên trái xe ô tô đầu kéo BKS 36H-057.44 kéo theo rơ moóc BKS 36R-032.34 (ảnh 5 đến 7) phù hợp va chạm với quần áo và thân thể anh Trần Xuân T3.
2. Vị trí va chạm giữa xe ô tô đầu kéo BKS 36H-057.44 kéo theo rơ moóc BKS 36R-032.34 nằm trước vị trí tổ chức da mô, chất dịch mầu nâu (số 3) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, thuộc phần đường dành cho xe cơ giới chiều từ thành phố Hà Nội đi tỉnh Nghệ An.
3. Tại thời điểm sẩy ra tai nạn xe ô tô đầu kéo BKS 36H-057.44 kéo theo rơ moóc BKS 36R-032.34 chuyển động theo hướng từ thành phố Hà Nội đi tỉnh Nghệ An. Không đủ cơ sở xác định chiều hướng chuyển động của anh Trần Xuân T3.
4. Dấu vết phù hợp va chạm với anh Trần Xuân T3, không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa ô tô đầu kéo BKS 36H-057.44 kéo theo rơ moóc BKS 36R-032.34 với phương tiện hay đồ vật khác.
5. Không đủ cơ sở xác định vận tốc của xe ô tô đầu kéo BKS 36H-057.44 kéo theo rơ moóc BKS 36R-032.34 tại thời điểm xẩy ra tai nạn.
Cơ quan điều tra thu giữ 01 thẻ nhớ có đặc điểm mầu trắng đen, trên mặt mầu trắng có ghi chữ @Jhua 64GB micro V30; Kết luận giám định số 2885/KL-KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không tìm thấy dữ liệu video trong khoảng thời gian từ 03 giờ 10 phút ngày 17/5/2024 đến 03 giờ 40 phút ngày 17/5/2024 trong 01 thẻ nhớ gửi giám định.
Trưng cầu định giá tài sản hư hỏng do tai nạn giao thông đối với xe ô tô đầu kéo BKS 36H-057.44 kéo theo rơ moóc BKS 36R-032.34 (đèn sương mù bên trái bị bung bật). Kết luận định giá tài sản số 07/KL-ĐGTS ngày 22/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện N xác định giá trị thiết hại là 1.584.000 đồng. (Bút lục 155).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng
Cơ quan điều tra Công an huyện N tạm giữ:
- 01 xe ôtô đầu kéo BKS 36H-057.44 kéo theo rơ moóc BKS 36R-032.34;
- 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 36H-057.44, tên chủ xe Nguyễn Ngọc T4;
- 01 chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc BKS 36R-032.34; tên chủ xe Nguyễn Ngọc T4;
- 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe đầu kéo BKS 36H-057.44;
- 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, rơ moóc BKS 36R-032.34;
- 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số XO/23/049582 của xe ô tô BKS 36H-057.44;
- 01 giấy phép lái xe ô tô hạng FC, mang tên Đào Văn T, có giá trị đến 11/5/2025.
Quá trình điều tra xác định xe ô tô đầu kéo BKS 36H-057.44 kéo theo rơ moóc BKS 36R-032.34; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 36H-057.44, tên chủ xe Nguyễn Ngọc T4; 01 chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc BKS 36R-032.34; tên chủ xe Nguyễn Ngọc T4; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe đầu kéo BKS 36H-057.44; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, rơ moóc BKS 36R-032.34;01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số XO/23/049582 của xe ô tô BKS 36H-057.44; đều thuộc quyền sở hữu của anh Võ Quốc H, sinh năm 1980, địa chỉ: chung cư S, khu đô thị M, quận H, thành phố Hà nội. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự
Sau khi xảy ra tai nạn, Đào Văn T đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của đại diện bị hại và đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, đồng thời đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKSNX, ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Đào Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 & khoản 2 Điều 51; Điều, 38, Điều 65 BLHS tôi đề nghị HĐXX:
- Tuyên bố bị cáo: Đào Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Xử phạt bị cáo từ 12 – 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng.
- Bị cáo là người lao động phổ thông, nhất thời phạm tội, phạm tội do lỗi vô ý, xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
- Dân sự: Trong gia đoạn điều tra bị cáo tự nguyện thỏa thuận bồi thường, đại diện theo ủy quyền bị hại không yêu cầu nên không xem xét;
- Vật chứng: không;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điêu 12 Nghị quyết 326/QH14 của UBTVQH khóa XIV, bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và thành khẩn khai báo hành vi của mình. Không có tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức về hành vi của mình là có tội và mong muốn gia đình người bị hại tha lỗi cho bị cáo đồng thời, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được tại ngoại để cải tạo và lao động khắc phục hậu quả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra hồi Rạng sáng ngày 17/5/2024, tại xã T; Tập bản ảnh vụ tai nạn giao thông; Biên bản khám nghiệm tử thi; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan dẫn đến tai nạn giao thông nên có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 17/5/2024 tại Km 590 + 870,6 đường H, thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Đào Văn T điều khiển xe xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 36H-057.44 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 36R-032.34 do vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, phát hiện phía trước đầu xe của mình có 01 chướng ngại vật mầu đỏ, nhưng chủ quan do lỗi cẩu thả nghĩ là bao tải, nên không giảm tốc độ. Khi khoảng cách còn khoảng 25 mét thì T mới phát hiện ra là một người đàn ông đang ngồi bệt dưới lòng đường. T đạp phanh, đánh lái hết về phần đường bên phải, nhưng do khoảng cách gần, tốc độ nhanh, phương tiện chở hàng nặng nên không thể dừng lại một cách an toàn, dẫn đến mặt trước ngoài bên trái ba-đờ-sốc trước của ô tô đầu kéo đã đâm vào người nạn nhân. Hậu quả Trần Xuân T3 tử vong tại chỗ. Hành vi trên của bị cáo Đào Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi và hậu quả xảy ra thấy rằng:
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi vô ý, điều khiển xe cơ giới đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Hậu quả hành vi vi phạm an toàn giao thông của bị cáo đã gây thiệt hại tính mạng của 01 người; phạm tội nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt mới đảm bảo tính giáo dục răn đe và phòng ngừa tội phạm, lập lại trật tự xã hội, giữ vững kỷ cương pháp luật.
Tuy nhiên trong vụ án này, Ngoài lỗi của bị cáo, nguyên nhân vụ tai nạn còn do một phần lỗi của Bị hại, ngồi dưới lòng đường dành cho xe cơ giới, gây cản trở giao thông và gây nguy hiểm cho chính bản thân bị hại.
[4]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy rằng: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo; đại diện theo ủy quyền của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp;
Ngoài ra, Nguyên nhân dẫn đến tai nạn cũng có một phần lỗi từ phía nạn nhân, ngồi dưới lòng đường dành cho xe cơ giới, gây cản trở giao thông và gây nguy hiểm cho chính bản thân bị hại. Khi lượng hình HĐXX sẽ cân nhắc xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật, để yên tâm cải tạo, sửa chữa trở thành công dân tốt. Bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét thấy việc cho bị cáo cải tạo tại cộng đồng không gây ảnh hưởng sấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, nên không cần phải cách ly bị cáo, mà để cho bị cáo cải tạo tại cộng đồng thể hiện tính khách quan trong việc áp dụng hình phạt và thể hiện tính chất khoan hồng của pháp luật để bị cáo yên tâm cải tạo trở thành công dân tốt.
[5] Xét về phần bồi thường trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Đào Văn T đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) theo yêu cầu. Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt nhưng có đơn trình bày không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[6] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe ô tô đầu kéo BKS 36H-057.44 kéo theo rơ moóc BKS 36R-032.34; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 36H-057.44, tên chủ xe Nguyễn Ngọc T4; 01 chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc BKS 36R-032.34; tên chủ xe Nguyễn Ngọc T4; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe đầu kéo BKS 36H-057.44; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, rơ moóc BKS 36R-032.34; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số XO/23/049582 của xe ô tô BKS 36H-057.44. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H theo quy định là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về phần hình phạt bổ sung: Bị cáo là người lao động phổ thông, nhất thời phạm tội, phạm tội do lỗi vô ý, nên HĐXX xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí theo quy định; Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1, Điều 260; Điều 50; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 136; Điều 331,333 Bộ luật TTHS; Điều 6, 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn T, phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Đào Văn T 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/10/2024).
Giao bị cáo Đào Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về phần án phí: Bị cáo Đào Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HS-ST.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp cho bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án vắng mặt hoặc niêm yết công khai bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Công Tuấn |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Văn Th, phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
