Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 30 - 9 - 2024

V/v “Tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Cao Khánh

Bà Đinh Cẩm Đào

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 33/2024/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn”.

Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 176/2024/HNGĐ-ST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 34/2024/QĐXX-PT ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Huế T, sinh năm 1993; Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Minh L, sinh năm 1990; Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người kháng cáo: Anh Trần Minh L, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Trương Thị Huế T trình bày: Về hôn nhân: Chị và anh L chung sống vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh vào ngày 19/02/2013, hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống, chị và anh L phát sinh mâu thuẫn do anh L tham gia tệ nạn xã hội, ghen tuông vô cớ và có nhắn tin hâm dọa. Chị xác định không còn tình cảm với anh L và yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh L.

Về con chung: Chị và anh L có hai con chung: Cháu Trần Trương Minh K, sinh ngày 18/4/2013 và cháu Trần Trương Minh T1, sinh ngày 18/4/2013. Chị đồng ý giao con cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Không có.

Bị đơn anh Trần Minh L trình bày: Về hôn nhân: Anh thống nhất lời trình bày của chị T về thời gian chung sống, thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn, hôn nhân tự nguyện. Anh thừa nhận trước đây anh có đánh bài ăn tiền, gần đây có đá gà ăn tiền. Sau khi chị T khởi kiện ly hôn, anh có liên hệ bên vợ nhưng chị T không chịu gặp mặt nên không hàn gắn được, anh có nhắn tin hâm dọa chị T mục đích tạo điều kiện cho vợ chồng hàn gắn.

Về con chung, tài sản chung và nợ: Anh thống nhất lời trình bày và yêu cầu của chị T.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 176/2024/HNGĐ-ST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi đã quyết định:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trương Thị Huế T, cho chị Trương Thị Huế T được ly hôn anh Trần Minh L.

Về con chung: Giao cháu Trần Trương Minh K, sinh ngày 18/4/2013 và cháu Trần Trương Minh T1, sinh ngày 18/4/2013 cho anh Trần Minh L tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị Trương Thị Huế T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Ngày 23/7/2024 bị đơn anh Trần Minh L kháng cáo, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để vợ chồng hàn gắn; trường hợp chị T quyết định ly hôn thì làm lại đơn khởi kiện khác và nêu lý do phù hợp với thực tế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Áp dụng 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Minh L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tại phiên toà anh Trần Minh L vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, anh cho rằng lý do xin ly hôn của chị Trương Thị H The là chưa phù hợp, anh không tham gia tệ nạn xã hội.

[2] Xét kháng cáo của anh Trần Minh L thấy rằng: Anh L trình bày lý do kháng cáo là anh không giam gia tệ nạn xã hội, lý do xin ly hôn của chị T chưa chính đáng, đề nghị sửa bản án sơ thẩm về việc không ghi nội dung anh tham gia tệ nạn xã hội, về hôn nhân thì anh thống nhất ly hôn.

Xét, bản án sơ thẩm không nhận định mâu thuẫn do anh L có hoặc không có tham gia tệ nạn xã hội để chấp nhận yêu cầu của chị T cho ly hôn, cấp sơ thẩm chỉ xem xét việc anh L và chị T trình bày nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh và chị T là nguyên nhân gì, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng hay không để giải quyết. Tại phiên toà anh L thống nhất ly hôn, như vậy về mâu thuẫn giữa anh L và chị T đã đến mức trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài nên cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận đơn khởi kiện của chị T là có căn cứ. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của anh L.

[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Minh L, đề nghị này là phù hợp, được chấp nhận.

[4] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên căn cứ vào Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Trần Minh L phải chịu án phí là 300.000 đồng, đã dự nộp được chuyển thu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Minh L. Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 176/2024/HNGĐ-ST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trương Thị Huế T, cho chị Trương Thị Huế T được ly hôn anh Trần Minh L.

Về con chung: Giao cháu Trần Trương Minh K, sinh ngày 18/4/2013 và cháu Trần Trương Minh T1, sinh ngày 18/4/2013 cho anh Trần Minh L tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị Trương Thị Huế T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trương Thị Huế T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001330 ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

Án phí phúc thẩm: Anh Trần Minh L phải chịu là 300.000 đồng. Đã dự nộp theo biên lai thu số 0001630 ngày 23/7/2024 tại Chi cục Thi hành án huyện Đầm Dơi được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Chi cục THADS huyện Đầm Dơi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Hải Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger