Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN quận K

THÀNH PHỐ PH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN quận K, THÀNH PHỐ PH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Ngọc Sinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lã Anh Tuấn

Bà Trần Thị Trúc Hoa.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Tâm - Thư ký Toà án nhân dân quận K, thành phố PH.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố PH tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận K, thành phố PH xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41a/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Vũ Văn H, cư trú: Số nhà 9/22/124 Tổ dân phố P, phường Đ, quận K, thành phố PH. Vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Trần Thị H, cư trú: Số nhà 9/22/124 Tổ dân phố P, phường Đ, quận K, thành phố PH. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 4 năm 2024 và các bản tự khai của nguyên đơn anh Vũ Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị Trần Thị H tự nguyện xây dựng hạnh phúc có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đồng Hòa vào ngày 16 tháng 9 năm 2014. Sau khi kết hôn anh chị sống cùng gia đình bố mẹ anh tại Tổ dân phố P, phường Đ, quận K, thành phố PH. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống trong mọi lĩnh vực, vợ chồng không có tiếng nói chung, không tôn trọng nhau, không có sự tin tưởng nhau về mặt tình cảm, dẫn đến sống ly thân 03 năm nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nên anh làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận K giải quyết cho anh được ly hôn chị Trần Thị H. Về con chung: Cháu Vũ Đức H, sinh ngày 21-6-2015 và Vũ Việt H, sinh ngày 26-6-2018. Đề nghị giao cho chị Trần Thị H nuôi hai con và tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con. Không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung.

Tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Trần Thị H trình bày: Thống nhất với nguyên đơn về điều kiện kết hôn và nơi ở của anh chị. Quá trình chung sống vợ chồng chị bình thường đến tháng 7-2023, anh Vũ Văn H bỏ nhà ra ngoài sống, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn của anh Vũ Văn H theo quy định pháp luật; thống nhất với nguyên đơn về việc giao cho chị Trần Thị H nuôi hai con và tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con. Không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố PH tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về phiên họp, hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng; phiên toà được mở đúng thời hạn; Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị: Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); các điều 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử Anh Vũ Văn H được ly hôn chị Trần Thị H; về con chung: Giao cho chị Trần Thị H nuôi hai con. Không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung. Về án phí: Anh Vũ Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn đối với bị đơn cư trú tại quận K, thành phố PH. Tòa án nhân dân quận K thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, phù hợp quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

[2] Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị được giải quyết, xét xử vắng mặt. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử tiếp tục phiên tòa xét xử, phù hợp quy định theo điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của BLTTDS.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Văn H và chị Trần Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đồng Hòa, quận K, thành phố PH được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không tin tưởng nhau về mặt tình cảm. Theo xác minh tại gia đình và địa phương, thì chị Trần Thị H, anh Vũ Văn H không có trách nhiệm tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình quy định "...vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc của gia đình", "...Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung". Xét, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn, bị đơn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc nguyên đơn có đơn xin ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về ly hôn.

[4] Về con chung: Anh Vũ Văn H và Chị Trần Thị H có con chung là: Cháu Vũ Đức Huy, sinh ngày 21-6-2015 và Vũ Việt H, sinh ngày 26-6-2018. Nguyên đơn, bị đơn thống nhất giao cháu Vũ Đức H, sinh ngày 21-6-2015 và Vũ Việt H, sinh ngày 26-6-2018 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, phù hợp nguyện vọng của con. Anh Vũ Văn H và chị Trần Thị H tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 235 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Văn H được ly hôn chị Trần Thị H.

- Về con chung: Giao Cháu Vũ Đức H, sinh ngày 21-6-2015 và Vũ Việt H, sinh ngày 26-6-2018 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Vũ Văn H và chị Trần Thị H tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Về án phí: Anh Vũ Văn H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Vũ Văn H đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004857 ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố PH, nên anh Vũ Văn H đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận A;
  • - Chi cục THADS quận A;
  • - UBND phường H, quận A, TP. PH (ĐKKH ngày 16/9/2014);
  • - Lưu: TA, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Ngọc Sinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN quận K, THÀNH PHỐ PH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN quận K, THÀNH PHỐ PH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H-H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger