|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/KDTM-ST Ngày: 16/8/2024 Về việc: “Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Hải
- Ông Hoàng Minh Trinh
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 72/2020/TLST-KDTM ngày 02 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-KDTM ngày 10 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2024/QĐST-KDTM ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên toà số 72/2024/TB-TA ngày 25/7/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Công ty cổ phần X – Trụ sở : Lô A89 đường 30 tháng 4, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Bá N – Chức vụ : Giám đốc, có mặt.
-
Bị đơn: Công ty cổ phần T4 – Trụ sở: 37 Đ, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ thay đổi theo cung cấp của nguyên đơn: Tầng 9, 10 khách sạn La Belle Vie số B C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng –Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Đăng T – Chức vụ : Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông Phạm Xuân B – Sinh năm 1990 – Trú tại : C Đ, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy ủy quyền số 68/2020/UQ-PHN ngày 21.12.2020), vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty TNHH T5 - Trụ sở : Số E Đ, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo ủy quyền có ông Trần Quốc T1 - Sinh năm 1986 - Nhân viên Công ty TNHH T5 - Trú tại : 5 T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/12/2020, bản tự khai, các biên bản hoà giải và tại phiên tòa đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần X ông Nguyễn Bá N trình bày:
Ngày 15/12/2018, Công ty Cổ phần X (Gọi tắt Công ty X) có ký hợp đồng thi công xây dựng số: 47/2018/PHN/HD-XD (gọi tắt là hợp đồng) với Công ty cổ phần T4, nay là Công ty Cổ phần T4 (Gọi tắt Công ty T4) - Chủ đầu tư Xây dựng công trình Khách sạn L, địa chỉ: số B C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hạng mục thi công: Thi công kết cấu bê tông cốt thép phần móng, phần thân và hoàn thiện xây, tô, chống thấm, ốp lát, cán nền. Sau thời gian thi công, Công ty X hoàn thành thi công hạng mục kết cấu bê tông cốt thép phần móng và tầng hầm. Giá trị của hạng mục này là: 1.855.140.000 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi lăm triệu, một trăm bốn mươi nghìn đồng chẵn) đã được tư vấn giám sát và Đại diện chủ đầu tư (Ban quản lý dự án) của Công ty T4 ký xác nhận trong hồ sơ thanh toán, quyết toán. Tuy nhiên, hồ sơ thanh toán, quyết toán này, Công ty T4 không ký vì cho rằng đại diện chủ đầu tư và tư vấn giám sát công trình ký không đúng. Khi lập các hạng mục khối lượng thi công tại hợp đồng, Công ty T4 chỉ đưa hạn chế khối lượng so với thiết kế, sau đó phát sinh khối lượng hạng mục thi công nhằm giảm bớt giá trị của hợp đồng ban đầu, giảm phần tạm ứng cho đơn vị thi công; các phần phát sinh ngoài hợp đồng rất lớn, chiếm tương đương trên 75% giá trị hạng mục thi công, đối với phần phát sinh này nhà thầu tự bỏ vốn sau đó mới được chủ đầu tư thanh toán lại ảnh hưởng đến nguồn tài chính cũng như tiến độ thi công của nhà thầu. Chính vì vậy, trong quá trình thi công, Công ty T4 cho rằng Công ty X vi phạm về tiến độ thi công công trình, phạt chúng tôi vì vi phạm hợp đồng. Ngoài ra, trong quá trình thi công, Công ty T4 không chia sẻ với đơn vị thi công, bắt bẻ những lỗi nhỏ, không đáng kể trong nghề thi công xây dựng, cho rằng chúng tôi vi phạm về chất lượng công trình, đưa ra mức phạt chúng tôi và đơn phương chấm dứt hợp đồng với Công ty chúng tôi. Công ty T4 lấy lý do chúng tôi thi công chậm tiến độ; Vi phạm chất lượng công trình rồi đơn phương chấm dứt hợp đồng với chúng tôi nhằm kéo dài tiến độ thanh toán, chiếm đoạt công sức, vốn, tiền thi công của Công ty C; Không chịu ký hồ sơ thanh toán, quyết toán của chúng tôi mặc dù hồ sơ đã được đại diện Ban quản lý dự án, tư vấn giám sát đã ký xác nhận. Sau nhiều lần thương lượng, trao đổi, làm việc đến ngày 29/10/2019, Công ty T4 yêu cầu Công ty chúng tôi làm “Hồ sơ thanh toán đợt 1” và Công ty T4 đã ký và thanh toán cho Công ty chúng tôi tổng cộng: 807 519 388 đ (T2 trăm lẻ bảy triệu, năm trăm mười chín nghìn, ba trăm tám tám đồng). Đối với việc Công ty T4 cho rằng chúng tôi thi công chậm tiến độ, vi phạm chất lượng công trình, đã đưa ra mức phạt, cụ thể: Phạt Công ty chúng tôi do không hoàn thành cam kết theo nội dung đề nghị thanh toán ngày 12/7/2019 (vi phạm chậm tiến độ theo biên bản với số tiền phạt là:100.000.000 đ ( Một trăm triệu đồng). Phạt công ty chúng tôi do vi phạm chậm tiến độ theo biên bản số 321/BB/2019/PHN với số tiền phạt là 77.031.292 đồng (Bảy mươi bảy triệu, không trăm ba mốt nghìn, hai trăm chín mươi hai đồng).
Việc Công ty T4 cho rằng chúng tôi vi phạm và phạt Công ty chúng tôi, chúng tôi đã ý kiến nhiều lần. Tuy nhiên, khi Công ty T4 đơn phương chấm dứt hợp đồng với chúng tôi, áp lực về thanh toán các chi phí (nhân công, vật tư) phục vụ công trình trong quá trình thi công của Công ty chúng tôi, Chúng tôi muốn được Công ty T4 thanh toán phần giá trị các hạng mục mà chúng tôi đã thi công nên chúng tôi đã chấp nhận chịu phạt. Như vậy, tính tổng giá trị hạng mục Công ty chúng tôi đã thi công; Phần thanh toán tại hồ sơ thanh toán đợt 1; Phần phạt vi phạm; Công ty T4 còn phải thanh toán cho chúng tôi, cụ thể: Tổng giá trị hạng mục Công ty chúng tôi đã thi công: 1.855.140.000 đồng – (Số tiền Công ty T4 đã thanh toán: 807.519.388 đồng + Số tiền phạt (chậm tiến độ, lỗi chất lượng): 177.031.292 đồng) = Số tiền Công ty T4 phải thanh toán cho Công ty C là: 870.589.320 đồng ( Tám trăm bảy mươi triệu năm trăm tám mươi chín nghìn, ba trăm hai mươi đồng).
Mặc dù, Công ty X đã nhiều lần yêu cầu Công ty T4 thanh toán nhưng Công ty T4 vẫn không thực hiện. Do đó, Công ty B.N.A yêu cầu Toà án giải quyết buộc Công ty Cổ phần T4 thực hiện nghĩa vụ thanh toán giá trị hạng mục còn lại cho Công ty CP X với số tiền: 870 589 320đ (T2 trăm bảy mươi triệu, năm trăm tám mươi chín nghìn, ba trăm hai mươi đồng) và yêu cầu tính lãi quá hạn theo lãi suất do chậm thanh toán, tương đương 1,5 lần lãi suất cho vay ngắn hạn tại ngân hàng V theo Điều 26.7 tại hợp đồng, tính từ ngày 01/11/2019 trên số tiền chưa thanh toán. Cụ thể, tạm tính đến 01/11/2020, là: 1,25%/tháng x 870 589 320 đ x 12 tháng = 130.588.398đ (Một trăm ba mươi triệu, năm trăm tám mươi chín nghìn, ba trăm chín mươi tám đồng).
Tại phiên toà nguyên đơn thay đổi nội dung khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết buộc Công ty T4 phải thanh toán số tiền 686.121.310đ và tiền lãi phát sinh tính từ 01/11/2019 đến tháng 8/2024 là: 686.121.310 x 0.75%/tháng x 57tháng = 293.316.860đ. Tổng cộng: 979.438.170đ.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn nguyên đơn không đồng ý vì Hợp đồng thi công số 156/2020/H ĐKT/PHN-ARCH ngày 15.6.2020 giữa Công ty T4 và Công ty TNHH T5 Tuấn P về việc thi công các hạng mục tầng hầm: Phần 1: Công tác xử lý tồn tại (Theo Trung tâm giám định), trong đó : Xử lý nứt sàn, vách Bê tông cốt thép, xử lý bề mặt bê tông bị rỗ, xử lý dầm chiếu tới tầng 1, vách thang máy tầng hầm và xử lý bề mặt bê tông vách tầng hầm; Phần 2: Cải tạo bể nước ngầm nên Công ty X chỉ đồng ý khấu trừ phần xử lý các tồn tại theo kết luận của Trung tâm G, còn việc cải tạo bể nước ngầm là việc riêng của Công ty T4 nên Công ty X không đồng ý.
Tại phiên toà bị đơn Công ty T4 vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai, các biên bản hoà giải ông Phạm Xuân B là đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày: Hợp đồng thi công xây dựng số 47/2018/PHN/HĐ-XD ngày 15/12/2018 đã được hai bên ký kết và thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty X đã không thực hiện đúng theo thỏa thuận đã cam kết. Cụ thể: Công ty X đã thi công chậm tiến độ so với cam kết và Công ty Cổ phần T4 đã nhiều lần nhắc nhở nhưng Công ty X vẫn không có biện pháp khắc phục; Năng lực và nhân lực của Công ty X không đảm bảo thực hiện hợp đồng. Căn cứ tại điểm (iii) Khoản 29.2 Điều 29 của Hợp đồng số 47/2018/PHN/HĐ-XD “Bên B thi công không đảm bảo chất lượng hoặc chậm tiến độ mà bên A phải nhắc nhở bằng văn bản về cùng một vấn đề đến lần thứ ba mà bên B không đưa ra biện pháp khắc phục bằng văn bản trình bên A hoặc có đưa ra biện pháp khắc phục nhưng không phù hợp hoặc không thực hiện và không được bên A chấp thuận” và các điều khoản thỏa thuận khác trong Hợp đồng thì Công ty T4 có quyền chấm dứt Hợp đồng. Hai bên chưa xác nhận công nợ hay ký hồ sơ thanh quyết toán.
Ngày 11/09/2019 Công ty T4 đã có văn bản số: 378/CV/2019/PHN thông báo không chấp nhận hồ sơ khối lượng, chất lượng mà Công ty X đã đệ trình.
Ngày 12/10/2019, đại diện Ban Quản lý dự án Công ty T4 và đại diện Công ty B1.NA đã có văn bản thống nhất nhận lại hồ sơ quyết toán, cùng nhau kiểm tra những khối lượng đã thi công đạt chất lượng và đợi kết quả báo cáo của Trung tâm kiểm định chất lượng công trình.
Liên quan đến chất lượng tầng hầm: Công ty T4 đã mời Văn phòng T6 đến lập Vi bằng ghi nhận hiện trạng tại thời điểm ngày 30/8/2019. Hai bên cũng đã thỏa thuận bằng biên bản làm việc, thống nhất mời Trung tâm kiểm định sự cố công trình thuộc Sở X1 đến tiến hành kiểm định và đã có báo cáo sự cố công trình ngày 28/10/2019. Công ty T4 khẳng định không tiến hành tháo dỡ toàn bộ mà chỉ tháo dỡ những phần hư hỏng, sai phạm để tiến hành khắc phục sửa chữa.
Liên quan đến việc sửa chữa tầng hầm, Công ty X đã gửi Công văn số: 43/CV-BNA ngày 04/12/2019 với nội dung “Công ty CP X đề nghị Công ty T4 thuê đơn vị thứ 3 độc lập thi công xử lý những khuyết tật theo cuộc họp ngày 03/12/2019 đã thống nhất. Đề nghị Công ty T4 cho đơn vị thứ 3 lên dự toán chi phí xử lý và có thông báo cho Công ty X xác nhận làm căn cứ để giảm trừ vào giá trị quyết toán”. Như vậy, Công ty X thống nhất nội dung để Công ty T4 mời đơn vị thứ ba vào thi công khắc phục, và hiện nay Công ty T4 đã có văn bản thông báo cho Công ty X: “đã mời thầu thành công đơn vị thứ ba đang tiến hành khắc phục". Công ty T4 đang thực hiện đúng thỏa thuận của hai bên và đúng yêu cầu của Công ty X. Công ty T4 sẽ gửi thông báo số tiền sữa chữa sau khi sữa chữa xong hạng mục tầng hầm (dự kiến hoàn thành ngày 31/03/2021).
Vì vậy, không có căn cứ yêu cầu công ty T4 thanh toán số tiền 870.589.320 VNĐ và số tiền lãi: 130.588.398 VNĐ theo đơn khởi kiện từ phía Công ty cổ phần X.
Ngày 14/4/2021 Công ty T4 có đơn yêu cầu phản tố và được Toà án thụ lý yêu cầu phản tố số 72/TB-TL ngày 31/5/2021 đối với yêu cầu phản tố của bị đơn theo quy định của pháp luật. Nội dung Công ty T4 yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc Công ty cổ phần X thanh toán số tiền sửa chữa tầng hầm theo hồ sơ quyết toán với bên thứ 3 tham gia sửa chữa (Công ty TNHH T5) là: 995.240.000 (chín trăm chín mươi lăm triệu, hai trăm bốn mươi ngàn đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH T5 Tuấn P vắng mặt tại phiên toà. Tại phiên hoà giải ngày 14/4/2021 người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH T5 có ông Trần Quốc T1 trình bày: Ông T1 xác nhận, vào ngày 15 tháng 6 năm 2020, giữa Công ty cổ phần T4 và Công ty TNHH T5 T3 Phạm có ký kết Hợp đồng thi công số 156/2020/HĐKT/PHN-ARCH ngày 15.6.2020 về việc thi công các hạng mục tầng hầm: Phần 1: Công tác xử lý tồn tại (Theo Trung tâm giám định), trong đó : Xử lý nứt sàn, vách Bê tông cốt thép, xử lý bề mặt bê tông bị rỗ, xử lý dầm chiếu tới tầng 1, vách thang máy tầng hầm và xử lý bề mặt bê tông vách tầng hầm; Phần 2: Cải tạo bể nước ngầm do bên Công ty B2 thi công bị hư hỏng. Quá trình thực hiện Hợp đồng, phía Công ty TNHH T5 đã thực hiện hoàn thành công việc theo thỏa thuận đã ký kết, Công ty TNHH T5 và Công ty cổ phần T4 đã ký hồ sơ quyết toán và trong đó các bên đã thống nhất Bảng chi tiết giá trị khối lượng công việc hoàn thành như sau: Phần 1: Công tác xử lý tồn tại (Theo Trung tâm giám định), trong đó : Xử lý nứt sàn, vách Bê tông cốt thép, xử lý bề mặt bê tông bị rỗ, xử lý dầm chiếu tới tầng 1, vách thang máy tầng hầm và xử lý bề mặt bê tông vách tầng hầm. Giá trị thực hiện quyết toán là 159.318.000đ; Phần 2: Cải tạo bể nước ngầm do bên công ty B2 thi công bị hư hỏng. Giá trị thực hiện quyết toán là 835.922.000đ. Hiện nay thì công trình thi công của Công ty TNHH T5 Tuấn P đã hoàn thành xong. Nay liên quan đến tranh chấp giữa Công ty cổ phần X và Công ty cổ phần T4 thì Công ty TNHH T5 T3 Phạm không nắm rõ, Công ty TNHH T5 chỉ thực hiện hoàn thành công việc theo đúng thỏa thuận với Công ty T4.
Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Theo đó, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng pháp luật từ khâu thụ lý cho đến phiên tòa xét xử. Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét khối lượng công việc Công ty X hoàn thành đối với công trình Khách sạn L, địa chỉ: số B C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng đã được nêu rõ tại báo cáo giám định về giá trị thi công số 001TA/24Cv ngày 22/3/2024 của Công ty TNHH G1 và căn cứ thoả thuận tại Điều 26.7 Hợp đồng thi công xây dựng số: 47/2018/PHN/HD-XD ngày 15/12/2018 xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Công ty T4 phải trả cho Công ty X số tiền 686.121.310đ và tiền lãi phát sinh tính từ 01/11/2019 đến tháng 8/2024 là: 686.121.310 x 0.75%/tháng x 57 tháng = 293.316.860đ. Tổng cộng: 979.438.170đ.
Đối với bị đơn có yêu cầu phản tố Toà án đã triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà không có lý do nên đề nghị HĐXX căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Công ty B1. N.A yêu cầu Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng giải quyết “Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng” với bị đơn Công ty cổ phần T4 có trụ sở tại địa chỉ số C Đ, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng là đúng thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng được quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn Công ty T4, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH T5 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, HĐXX căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện. Xét yêu cầu thay đổi nội dung khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu thay đổi nội dung khởi kiện của nguyên đơn.
-
Về nội dung vụ án: Vào ngày 15/12/2018, Công ty Cổ phần X có ký hợp đồng thi công xây dựng số: 47/2018/PHN/HD-XD với Công ty cổ phần T4, nay là Công ty Cổ phần T4 - Chủ đầu tư Xây dựng công trình Khách sạn L, Địa chỉ: số B C, P. T, Q. H, TP .. Hạng mục thi công: Thi công kết cấu bê tông cốt thép phần móng, phần thân và hoàn thiện xây, tô, chống thấm, ốp lát, cán nền dự án Khách sạn L. Trị giá hợp đồng tạm tính 5.925.484.000đ. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty X đã hoàn thành khối lượng thi công hạng mục kết cấu bê tông cốt thép phần móng và tầng hầm. Giá trị của hạng mục này là: 1.855.140.000 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi lăm triệu, một trăm bốn mươi nghìn đồng chẵn) đã được tư vấn giám sát và Đại diện chủ đầu tư (Ban quản lý dự án) của Công ty T4 ký xác nhận trong hồ sơ thanh toán, quyết toán. Tuy nhiên, hồ sơ thanh toán, quyết toán này, Công ty T4 không ký. Đến ngày 29/10/2019, Công ty T4 yêu cầu Công ty X làm “Hồ sơ thanh toán đợt 1” và Công ty T4 đã ký và thanh toán cho Công ty X tổng cộng: 807 519 388đ (Tám trăm lẻ bảy triệu, năm trăm mười chín nghìn, ba trăm tám tám đồng) và chưa thanh toán số tiền còn lại nên Công ty X khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc: Công ty T4 phải thanh toán cho Công ty X số tiền 686.121.310đ và tiền lãi phát sinh tính từ 01/11/2019 đến tháng 8/2024 là: 686.121.310₫ x 0.75%/tháng x 57 tháng = 293.316.860đ. Tổng cộng: 979.438.170₫.
Bị đơn Công ty T4 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì Công ty B.N.A đã thi công chậm tiến độ so với cam kết và Công ty T4 đã nhiều lần nhắc nhở nhưng Công ty X vẫn không có biện pháp khắc phục; năng lực và nhân lực của Công ty X không đảm bảo thực hiện hợp đồng. Công ty T4 và Công ty X đã có nhiều thỏa thuận để khắc phục những hạn chế do lỗi thi công của Công ty X, đã mời Công ty TNHH T5 thi công khắc phục những lỗi của Công ty X gây ra khi thực hiện xây dựng công trình và dự toán chi phí phí xử lý sẽ làm căn cứ để giảm trừ vào giá trị quyết toán. Đồng thời Công ty T4 có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án: Buộc Công ty cổ phần X thanh toán số tiền sửa chữa tầng hầm theo hồ sơ quyết toán với bên thứ 3 tham gia sửa chữa (Công ty TNHH T5) là: 995.240.000 (Chín trăm chín mươi lăm triệu, hai trăm bốn mươi ngàn).
-
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Hợp đồng thi công xây dựng số: 47/2018/PHN/HD-XD ngày 15/12/2018 (bao gồm phụ lục I: nội dung khối lượng công việc và bảng giá hợp đồng, phụ lục II: bảng giá vật tư, phụ lục 2: Quy chế về công tác vệ sinh, an toàn lao động, chất lượng, tiến độ) được ký kết giữa Công ty Cổ phần X với Công ty cổ phần T4, nay là Công ty Cổ phần T4 phù hợp với quy định tại Điều 138 Luật xây dựng, phù hợp với quy định về hợp đồng của Bộ luật dân sự. Hợp đồng được thỏa thuận bằng văn bản, hai bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo về chủ thể, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên có hiệu lực pháp luật và là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.
[3.1] Thực hiện hợp đồng: Công ty X đã hoàn thành khối lượng thi công hạng mục kết cấu bê tông cốt thép phần móng và tầng hầm với trị giá được tính căn cứ theo nội dung hợp đồng là 1.855.140.000 đồng và lập hồ sơ quyết toán đề nghị Công ty T4 thanh toán nhưng Công ty T4 không ký xác nhận khối lượng hoàn thành và không thanh toán vì Công ty X vi phạm tiến độ, có lỗi trong quá trình thi công và Công ty T4 đã chấm dứt Hợp đồng với Công ty X vì thi công không đảm bảo chất lượng hoặc chậm tiến độ mà không thực hiện việc thanh toán khối lượng công trình mà Công ty X đã hoàn thành là không phù hợp với thỏa thuận của các bên tại hợp đồng đã ký, cụ thể vi phạm về quy định tại Điều 24.1. Quyền và nghĩa vụ của Bên A: Nghiệm thu và thanh toán cho bên B theo quy định tại Điều 5 Hợp đồng...” và quy định tại Điều 29 “... Khi xảy ra các trường hợp chấm dứt hợp đồng trên đây (ngoại trừ điểm v), bên A có quyền tạm ngừng mọi khoản thanh toán cho bên B. Đồng thời, Bên A có quyền sử dụng mọi nguyên vật liệu tại công trường để thi công các công tác tiếp theo hoặc bán thanh lý. Tổng giá trị thực hiện công việc của Bên B (bao gồm cả nguyên vật liệu) tại thời điểm chấm dứt sẽ được Bên A thanh toán trong vòng 30 ( ba mươi ) ngày làm việc sau khi trừ các khoản phạt theo quy định của hợp đồng này và các khoản đã được Bên A thanh toán cho Bên B...”. Do đó, yêu cầu về thanh toán tiền đối với khối lượng công việc đã hoàn thành của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở.
[3.2] Quá trình các bên phát sinh tranh chấp, Công ty T4 không ký hồ sơ thanh toán, quyết toán của Công ty X mà chỉ có đại diện chủ đầu tư và tư vấn giám sát công trình ký xác nhận vào nhật ký thi công công trình nên Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định Công ty TNHH G1 thực hiện giám định để xác định giá trị khối lượng hoàn thành, giá trị khắc phục các lỗi do Công ty X vi phạm theo báo cáo của Trung tâm giám định chất lượng xây dựng, tiền phạt do Công ty X vi phạm tiến độ. Căn cứ Báo cáo giám định số 001TA/24CV ngày 22/3/2024 của Công ty TNHH G1 xác định được trị giá khối lượng của Công ty X đã hoàn thành là 1.845.019.000đ (trong đó giá trị thực hiện theo hợp đồng 1.511.559.000đ. giá trị phát sinh ngoài hợp đồng 333.460.000đ), giá trị phát sinh khắc phục các lỗi theo báo cáo kiểm định số 98/BC-TTGĐ ngày 28/10/2019 của Trung tâm giám định chất lượng xây dựng Đà Nẵng là 159.318.000đ, chi tiết xử phạt mà Công ty X đã xác nhận theo hồ sơ thanh toán đợt 1 là 177.031.292đ, số tiền Công ty B2 đã được thanh toán đợt 1: 807.519.388 đồng nên HĐXX xác định số tiền Công ty T4 còn phải thanh toán cho Công ty X là: 1.845.019.000- (807.519.388đ+ 159.318.000đ + 177.031.292đ) = 701.150.320.000đ. Tuy nhiên, Công ty X chỉ yêu cầu số tiền thi công mà Công ty T4 còn phải thanh toán là 686.121.310đ nên cần chấp nhận số tiền này của nguyên đơn, buộc Công ty T4 phải thanh toán cho Công ty X số tiền 686.121.310đ.
[3.3] Đối với yêu cầu về số tiền lãi chậm thanh toán: Tại Điều 26 của Hợp đồng (mục 26.7) các bên có thỏa thuận về vi phạm thanh toán thì sẽ phải thanh toán phần lãi suất do chậm thanh toán tương đương 1,5 lần lãi suất cho vay ngắn hạn tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trễ là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 43 Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng. Do đó, cần buộc Công ty T4 phải trả tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán cho Công ty X từ thời điểm chậm trả ngày 01/11/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 0.75%/ tháng. Hội đồng xét xử căn cứ biên bản bản giao lại mặt bằng ngày 26/8/2019 giữa Công ty X và Công ty T4 và căn cứ thoả thuận về lãi suất quy định tại Điều 26.7 Hợp đồng xây dựng thì nếu Công ty T4 vi phạm thanh toán cho bên B thì sẽ phải thanh toán phần lãi suất do chậm thanh toán tương đương 1,5 lần lãi suất cho vay ngắn hạn của Ngân hàng V tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trễ, căn cứ văn bản số 1199/CV-ĐAN-KT ngày 08/8/2024 của Ngân hàng TMCP N1, Chi nhánh Đ về việc cung cấp thông tin lãi suất xác định yêu cầu của Công ty X về việc buộc Công ty T4 trả số tiền lãi: 686.121.310₫ x 0.75%/tháng x 57 tháng = 293.316.860đ là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với thoả thuận của các bên nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc tính tiền lãi, cần buộc Công ty T4 phải trả cho Công ty B3. A số tiền lãi là 293.316.860đ.
Từ phân tích trên cần buộc Công ty T4 phải thanh toán cho Công ty X tổng số tiền: 979.438.170đ (Chín trăm bảy mươi chín triệu bốn trăm ba mươi tám ngàn một trăm bảy mươi đồng).
-
Đối với Công ty P1 có đơn yêu cầu phản tố, đã được Toà án thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, quá trình tố tụng không tuân thủ các văn bản tố tụng của Toà án và tại phiên toà hôm nay, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 thì coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và HĐXX quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty T4 là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
-
Tại phiên tòa hôm nay, nhận định của Vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
-
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chổ nguyên đơn Công ty X tự nguyện chịu 4.000.000đ (đã nộp và chi xong).
Chi phí trưng cầu giám định 35.000.000 nguyên đơn Công ty X tự nguyện chịu (đã nộp và chi xong).
-
Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: 41.383.145đ bị đơn Công ty T4 phải chịu. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Đối với số tiền tạm ứng án phí về yêu cầu phản tố của bị đơn là 20.928.600₫ được sung vào công quỹ nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 2 Điều 227, Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 112, 138, 139, 140, 144 Luật xây dựng năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần X đối với bị đơn Công ty Cổ phần T4 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng”.
Xử:
-
Buộc Công ty cổ phần T4 phải thanh toán cho Công ty cổ phần X số tiền 979.438.170₫ (Chín trăm bảy mươi chín triệu bốn trăm ba mươi tám ngàn một trăm bảy mươi đồng). (Trong đó: tiền khối lượng thi công: 686.121.310đ, tiền lãi tính từ ngày 01/11/2019 đến ngày 24/8/2024 là: 293.316.860đ).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.
-
Đình chỉ yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần T4 về việc yêu cầu Công ty Cổ phần X thanh toán tiền sữa chữa tầng hầm với số tiền: 995.240.000đ.
Công ty Cổ phần T4 có quyền khởi kiện lại yêu cầu phản tố theo quy định của pháp luật.
-
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chổ nguyên đơn Công ty X tự nguyện chịu 4.000.000đ (đã nộp và chi xong).
Chi phí trưng cầu giám định 35.000.000 nguyên đơn Công ty X tự nguyện chịu (đã nộp và chi xong).
-
Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: 41.383.145đ (Bốn mươi mốt triệu ba trăm tám mươi ba ngàn một trăm bốn mươi lăm đồng) Công ty cổ phần T4 phải chịu.
Hoàn trả cho Công ty cổ phần X số tiền 21.017.666đ (Hai mươi mốt triệu không trăm mười bảy ngàn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005130 ngày 01/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Sung vào công quỹ nhà nước số tiền tạm ứng án phí 20.928.600₫ (Hai mươi triệu chín trăm hai mươi tám ngàn sáu trăm đồng) của Công ty cổ phần T4 đã nộp theo biên lai thu số 0005492 ngày 31/5/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
-
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
-
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND quận Hải Châu; - Chi cục THADS quận Hải Châu - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Mỹ Dung |
Bản án số 32/2024/KDTM-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng
- Số bản án: 32/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán
