Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MINH HOÁ

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày: 14/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Minh Toàn

  • Các Hội thẩm nhân dân:

    • Ông: Lê Minh Toàn

    • Bà: Cao Thị Thu Ngà

  • - Thư ký phiên toà: ông Cao Lương Bằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Hoài Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 26/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Cao Xuân G, tên gọi khác: không có tên gọi khác. Giới tính: nam; sinh ngày 22/06/2002 tại xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký HKTT: bản Y, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Chứt; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 10/12; cha: Cao Xuân Q, sinh năm: 1964 (đã chết); mẹ: Cao Thị T; anh chị em ruột: gồm 05 người, G là con út trong gia đình; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/03/2024 đến ngày 26/03/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.

  2. Cao Tiến N, tên gọi khác: không có tên gọi khác; giới tính: nam; sinh ngày 26/09/2002 tại xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký HKTT: bản Y, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Chứt; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 09/12; cha: Cao Cấp Thiếp; mẹ: Đinh Thị C; anh chị em ruột: gồm 02 người, N là con cả trong gia đình; vợ: Cao Thị L, sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: ngày 24/9/2019 bị xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “làm hư hỏng tài sản”

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/03/2024 đến ngày 26/03/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.

Người bào chữa của các bị cáo: bà Nguyễn Thị Diệu L1 - trợ giúp viên trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q, có mặt;

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: chị Cao Thị H; sinh năm 1995; địa chỉ: bản M, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 20/03/2024, Cao Xuân G, sinh năm 2002 trú tại bản Y, xã T, huyện M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 73C1- 16356 đến nhà của Cao Tiến N, sinh năm 2002 trú cùng bản rủ N đi thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình chơi thì N đồng ý. Sau đó, G điều khiển xe mô tô chở N đến thị trấn Q. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, sau khi đi chơi xong N rủ G góp tiền mua ma túy để sử dụng thì G đồng ý. G dừng xe lại bên đường, sau đó lấy ra số tiền 800.000 đồng, N lấy số tiền 900.000 đồng đưa cho G, tổng số tiền là 1.700.000 đồng. Góp tiền xong, G tiếp tục chở N đi theo hướng từ thị trấn Q về xã M. Khi đi đến khu vực cầu K thuộc tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện M, cả hai gặp một người đàn ông lạ mặt không quen biết, có dáng giống người nghiện nên G dừng xe lại và hỏi người đàn ông có ma túy bán không, thì người đó trả lời là có. Sau đó, G lấy ra số tiền 1.700.000 đồng đưa cho người đàn ông thì người đàn ông đưa lại cho G một túi nilon, bên trong chứa 08 viên ma túy loại hồng phiến và 01 tép ma túy. Sau khi mua xong, G đưa N cất giữ. N cầm số ma túy trên vào lòng bàn tay phải. G tiếp tục điều khiển xe mô tô chở N về đến khu V thuộc thôn T, xã T, huyện M thì cả hai dừng lại bên đường, xuống cống nước, N lấy ra 05 viên ma túy và cả hai sử dụng hết. Sau khi sử dụng xong, G điều khiển xe mô tô chở N đi về nhà. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường liên bản (đoạn dốc Pà Nùn) thuộc bản Ón, xã T, huyện M thì bị lực lượng Đồn Biên phòng C1 yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong lòng bàn tay phải của N có 01 túi nilon, bên trong chứa 03 viên ma túy loại hồng phiến và 01 tép ma túy loại đá. Sau đó, lực lượng Đồn biên phòng C1 tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ tang vật.

Tiến hành khám xét khẩn cấp phương tiện và chỗ ở của Cao Xuân G tại bản Y, xã T, huyện M, không phát hiện đồ vật tài liệu gì khác.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cao Tiến N tại bản Y, xã T, huyện M, không phát hiện tài liệu đồ vật gì.

Tại Bản kết luận giám định số 357/KL-KTHS ngày 24/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận:

  • - Mẫu ký hiệu A1 (03 viên nén hình tròn, màu hồng, trên mỗi viên có in chữ “WY”) gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,281 gam (không phẩy hai trăm tám mươi mốt gam).

  • - Mẫu ký hiệu A2 (các chất tinh thể dạng rắn, màu trắng đục) gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,217gam (không phẩy hai trăm mười bảy gam).

Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự là 247, thuộc Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25 tháng 08 năm 2022 của Chính phủ.

Các mẫu ký hiệu A1, A2 là số ma túy Cao Xuân G và Cao Tiến N tàng trữ, có tổng khối lượng là 0,498 gam (không phẩy bốn trăm chín mươi tám gam).

Vật chứng vụ án gồm:

  1. Số ma túy sau giám định được niêm phong bằng 01 phong bì thư các mép dán kín, trên ghi nội dung “357/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt;

  2. 01 túi nilon trong suốt, phần miệng túi có một đường sọc ngang màu đỏ;

  3. 01 đoạn băng keo màu đen;

  4. 01 căn cước công dân số 0442022003374 mang tên Cao Tiến N;

  5. 01 xe mô tô màu trắng, hiệu HONDA, gắn biển kiểm soát 73C1.16356; số khung RLHJA3929NY516244; số máy JA39E-2979408; đã bị thay đổi kết cấu bên ngoài.

Hiện các vật chứng trên đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số: 31/CT-VKSMH ngày 26/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá quyết định truy tố bị cáo Cao Xuân G và bị cáo Cao Tiến N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Cao Xuân G từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Cao Tiến N từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.

Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự tiêu hủy: số ma túy sau giám định được niêm phong bằng 01 phong bì thư các mép dán kín, trên ghi nội dung “357/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt; 01 túi nilon trong suốt, phần miệng túi có một đường sọc ngang màu đỏ; 01 đoạn băng keo màu đen.

Áp dụng điểm b khoản 3 điều 106 bộ luật tố tụng hình sự: trả lại cho bị cáo Cao Tiến N 01 căn cước công dân số 0442022003374 mang tên Cao Tiến N; trả lại cho chị Cao Thị H 01 xe mô tô màu trắng, hiệu HONDA, gắn biển kiểm soát 73C1.16356; số khung RLHJA3929NY516244; số máy JA39E-2979408; đã bị thay đổi kết cấu bên ngoài.

Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, Viện kiểm sát huyện M, Điều tra viên, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội: mặc dù nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do nghiện ma túy nên bị cáo Cao Xuân G và bị cáo Cao Tiến N đã góp tiền để đi mua ma tuý với số lượng 08 viên ma tuý và 01 tép bột ma tuý để sử dụng và đã sử dụng 05 viên ma tuý còn 03 viên và 01 tép bột ma tuý có khối lượng 0,498g methanphetamin về tàng trữ nhằm mục đích sử dụng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Cao Xuân G rủ Cao Tiến N góp tiền đi mua ma tuý. G góp 800.000 đồng, N góp 900.000 đồng đi mua ma tuý với số lượng 08 viên ma tuý và 01 tép bột ma tuý. Lời nhận tội đó phù hợp với các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện và đầy đủ chứng cứ về thời gian, địa điểm bắt quả tang, khối lượng chất ma túy, loại ma túy, ý kiến của Kiểm sát viên. Do đó đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Cao Xuân G và bị Cáo Cao Tiến N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có độ tuổi lao động nhưng không rèn luyện lao động, ham chơi dẫn đến nghiện ma túy nên mua ma túy về tàng trữ để sử dụng. Hành vi của bị cáo Cao Xuân G và bị cáo Cao Tiến N đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội cần được xử lý nghiêm.

Vì vậy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo để lên cho các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Xét vai trò của từng bị cáo đối với Cao Xuân G là người khởi xướng và cùng góp tiền với Cao Tiến N cùng nhau đi mua ma tuý rồi sử dụng chung nên các bị cáo chịu trách nhiệm ngang nhau.

Người bào chữa cho bị cáo G và N bà Nguyễn Thị Diệu L1 đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có cơ sở cần chấp nhận.

Tuy nhiên hội đồng xét xử cần xem xét cho các bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[4] Vật chứng vụ án: số ma túy sau giám định được niêm phong bằng 01 phong bì thư các mép dán kín, trên ghi nội dung “357/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt; 01 túi nilon trong suốt, phần miệng túi có một đường sọc ngang màu đỏ; 01 đoạn băng keo màu đen: đây là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật chứng không còn giá trị vì vậy cần áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 xe mô tô màu trắng, hiệu HONDA, gắn biển kiểm soát 73C1.16356; số khung RLHJA3929NY516244; số máy JA39E-2979408; đã bị thay đổi kết cấu bên ngoài đây là phương tiện Cao Xuân G sử dụng để đi mua ma tuý nhưng tài sản xe là của chị Cao Thị H và khi Cao Xuân G mượn xe chị H không biết việc G đi mua ma tuý và 01 căn cước công dân số 0442022003374 mang tên Cao Tiến N. Vì vậy cần áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại chiếc xe mô tô cho chị Cao Thị H và căn cước công dân cho Cao Tiến N.

Về nguồn gốc số ma túy mà bị cáo G, N khai mua của người đàn ông ở thị trấn Q nhưng cả hai không biết tên, tuổi và địa chỉ nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xác minh.

Án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Cao Xuân G và bị cáo Cao Tiến N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Cao Xuân G 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 20/3/2024).

    Xử phạt bị cáo Cao Tiến N 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 20/3/2024).

    Tiếp tục tạm giam bị cáo Cao Xuân G và bị cáo Cao Tiến N 45 ngày theo quyết định của Hội đồng xét xử.

  2. Về vật chứng vụ án:

    Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: số ma túy sau giám định được niêm phong bằng 01 phong bì thư các mép dán kín, trên ghi nội dung “357/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt; 01 túi nilon trong suốt, phần miệng túi có một đường sọc ngang màu đỏ; 01 đoạn băng keo màu đen;

    Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại cho chị Cao Thị H 01 xe mô tô màu trắng, hiệu HONDA, gắn biển kiểm soát 73C1.16356; số khung RLHJA3929NY516244; số máy JA39E-2979408; đã bị thay đổi kết cấu bên ngoài;

    Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại cho bị cáo Cao Tiến N 01 căn cước công dân số 0442022003374 mang tên Cao Tiến N.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.

  3. Án phí: bị cáo Cao Xuân G và bị cáo Cao Tiến N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/8/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;

  • - Công an huyện Minh Hoá;

  • - VKSND huyện Minh Hoá;

  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;

  • - Chi cục THADS huyện Minh Hoá;

  • - Bị cáo; Người bào chữa cho các bị cáo;

  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;

  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Bình;

  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA:

Nguyễn Minh Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Xuân Giang, Cao Tiến Ngọc - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger