TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17-7-2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Đức Thọ
- Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bút
- Bà Lê Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, tp Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, tp Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Công Hưng- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa:
- - Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Ngọc D, sinh ngày 1996; địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, Tp Đà Nẵng;
- - Bị đơn: Ông Phạm Văn K, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ F, khu tái định cư B, thôn V, xã H, huyện H, Tp Đà Nẵng.
(Nguyên đơn có mặt; bị đơn có đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đinh Thị Ngọc D trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn K kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận C, Tp Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông K thường xuyên vay nợ để chơi cờ bạc, lô đề, cá độ, không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên cãi vã nên gia đình luôn căng thẳng. Bà D và ông K đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không còn khả năng hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà D được ly hôn ông Phạm Văn K.
- - Về quan hệ con chung: Bà Đinh Thị Ngọc D xác nhận có 02 con chung là Phạm Ngọc Hà M, sinh ngày 24/8/2019 và Phạm Ngọc Gia K1, sinh ngày 24/02/2023. Ly hôn, bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi 02 con đủ 18 tuổi.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Văn K vắng mặt, tuy nhiên theo bản tự khai ngày 14/6/2024, ông K trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn K và bà Đình Thị Ngọc D1 có đăng ký kết hôn năm 2018 tại UBND Phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Theo ông K nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách và quan điểm về cuộc sống giữa hai vợ chồng không giống nhau nên vợ chồng xây ra cãi vã với nhau. Nhiều lần được hai bên gia đình khuyên nhủ nhưng không có kết quả, hai vợ chồng không sống chung với nhau từ cuối tháng 02 năm 2024 đến nay, phần ai nấy sống, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, ông K đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà D1.
- - Về quan hệ con chung: Ông K xác nhận giữa hai vợ chồng có hai con chung là Châu Phạm Ngọc Hà M, sinh ngày 24/08/2019 và Châu Phạm Ngọc Gia K1, sinh ngày 24/02/2023. Ly hôn, ông K đồng ý giao hai con chung cho bà D1 nuôi dưỡng; ông K đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con, mỗi tháng 5.000.000đ cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
* Phát biểu của Kiểm sát viên:
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- + Từ khi thụ lý đến trước thời điểm mở phiên tòa: Thẩm phán, Thư ký Tòa án, nguyên đơn, bị đơn tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
- + Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đầy đủ, đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như không tham gia các phiên toà.
- Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- + Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Đinh Thị Ngọc D được ly hôn với ông Phạm Văn K.
- + Về con chung: Giao cho bà Đinh Thị Ngọc D nuôi dưỡng 02 con chung là Phạm Ngọc Hà M, sinh ngày 24/8/2019 và Phạm Ngọc Gia K1, sinh ngày 24/02/2023. Ông K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi.
- + Về tài sản chung: Bà Đinh Thị Ngọc D không yêu cầu nên không xem xét.
- + Về nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn xác nhận không có nên đề nghị không xét.
- + Về án phí:
- - Nguyên đơn bà Đinh Thị Ngọc D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
- - Bị đơn ông Phạm Văn K phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp ly hôn giữa bà Đinh Thị Ngọc D và ông Phạm Văn K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn để tham gia phiên tòa, tuy nhiên bị đơn vắng mặt đồng thời có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Đinh Thị Ngọc D và ông Phạm Văn K kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại phiên tòa, bà D cho rằng quá trình chung sống giữa bà D và ông K phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông K thường xuyên vay nợ để chơi cờ bạc, lô đề, cá độ, không có trách nhiệm với gia đình, dẫn đến vợ chồng hay cãi vã, gia đình luôn căng thẳng. Bà D và ông K đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không còn khả năng hàn gắn. Vì vậy, bà D đề nghị Tòa án giải quyết cho bà D được ly hôn với ông Phạm Văn K.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa nhưng ông K đã có bản khai cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn giữa ông K và bà D là do tính cách và quan điểm về cuộc sống giữa hai vợ chồng không giống nhau nên vợ chồng hay xảy ra cãi vã với nhau. Nhiều lần được hai bên gia đình khuyên nhủ nhưng không có kết quả, hai vợ chồng không sống chung với nhau từ cuối tháng 02 năm 2024 đến nay, phần ai nấy sống, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông K đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà D.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân của bà D và ông K là trầm trọng, không thể hàn gắn được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D, xử cho bà D được ly hôn với ông Phạm Văn K là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung:
Bà D và ông K cùng xác nhận có 02 con chung là Châu Phạm Ngọc Hà M, sinh ngày 24/08/2019 và Châu Phạm Ngọc Gia K1, sinh ngày 24/02/2023. Ly hôn, bà D yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con, đồng thời yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi. Tại bản khai ông K cũng thống nhất giao 02 con chung cho bà Đinh Thị Ngọc D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ông K đồng ý cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi.
Vì vậy, cần xử chấp nhận yêu cầu quyền được nuôi con và quyền yêu cầu được cấp dưỡng nuôi con của bà D là phù hợp với Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về tài sản chung: Bà Đinh Thị Ngọc D không yêu cầu nên không xét.
[2.4] Về nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn xác nhận không có nên không xét.
[2.5] Về án phí:
- - Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Đinh Thị Ngọc D phải chịu là 300.000 đồng nhưng được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp theo biên lai thu số 0002042 ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- - Án phí cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Văn K phải chịu theo quy định.
[2.6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tại phiên tòa là đúng quy định của pháp luật nên Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Ngọc D về việc yêu cầu xin ly hôn với bị đơn ông Phạm Văn K, xử:
- Về hôn nhân: Cho bà Đinh Thị Ngọc D được ly hôn với ông Phạm Văn K.
- Về con chung: Giao cho bà Đinh Thị Ngọc D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là Phạm Ngọc Hà M, sinh ngày 24/8/2019 và Phạm Ngọc Gia K1, sinh ngày 24/02/2023. Ông K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8 năm 2024.
Các bên đương sự vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực, nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì hàng tháng phải chiu thêm khoản lãi tương ứng với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về tài sản chung: Không xem xét.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí:
- - Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Đinh Thị Ngọc D phải chịu là 300.000 đồng nhưng được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp theo biên lai thu số 0002042 ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Bà Đinh Thị Ngọc D đã nộp đủ án phí.
- - Án phí cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Văn K phải chịu 300.000 đồng.
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đức Thọ |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ban an so 32
