|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày: 24 – 5 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Hoa Lài
Ông Trần Văn Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/HSST- QĐ ngày 09/5/2024 đối với bị cáo:
ĐẶNG YẾN T1
- sinh năm 1993; tên gọi khác: Không; nơi sinh: Tại P, tỉnh Hậu Giang. Hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở hiên nay: Ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Cha: Đặng Ngọc C, sinh năm 1973 và mẹ bà Cao Ngọc C1, sinh năm 1969; Bị cáo: có vợ Nguyễn Thị L đã ly hôn, có 01 con Đặng Phú Q, sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Ngày 05/3/2024, Đặng Yến T1 bị Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Trần Ngọc T2 – sinh năm 1991
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ ngày 06/9/2023, bị cáo Đặng Yến T1 đang ở thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang thì gặp thanh niên tên V là bạn của T1 (chưa xác định được nhân thân, địa chỉ của V). V rủ T1 đi tìm tài sản trộm cắp lấy tiền tiêu xài cá nhân thì T1 đồng ý. V điều khiển xe mô tô nhãn nhiệu Novou màu đỏ đen (không xác định được biển số kiểm soát) chở T1 đến khu N, thuộc khu dân cư V, ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang. V đậu xe ngoài lộ, V và T1 đi bộ dãy nhà trọ, khi đến phòng số 1, phòng này do anh Trần Ngọc T2 thuê. Lúc này, anh T2 đã về quê không có ở phòng trọ, khi đi anh T2 có dùng ổ khóa bằng kim loại khóa cửa bên ngoài. V dùng thanh kim loại sắt hình tròn, dài khoảng 40 cm cạy phá ổ khóa. V và T1 vào phòng tìm kiếm tài sản, T1 đi lên gác lửng lấy được 01 cây đàn Guita nhãn hiệu Moris, 01 cái trống gõ bo nhãn hiệu Laxer, còn V lấy 01 laptop nhãn hiệu Dell, Inspiron 15 3000 Series, I i5, Ram H, SSD 256G, windows 10, 15,6 inch, 01 áo khoát Jean nam và 01 ba lô. Sau đó, V chở T1 đến ngã ba C thì T1 xuống xe. T1 đem cây đàn G và cái trống gõ bo tặng cho người bạn tên Bảo A (không xác định được nhân thân, địa chỉ) còn V giữ áo khoát, ba lô và laptop. V đem laptop đến thành phố Cần Thơ bán được số tiền 2.000.000 đồng, V cho T1 700.000 đồng, T1 dùng tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng.
Đến ngày 24/10/2023, Đặng Yến T1 tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện P, tỉnh Hậu Giang. Bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công huyện P mời làm việc, T1 đã khai nhận sự việc trộm cắp tài sản của anh Trần Ngọc T2.
Đối với anh Trần Ngọc T2, khoảng 08 giờ 30 phút ngày 06/9/2023 được quản lý nhà trọ là anh Nguyễn Văn N (sinh năm 1982, ngụ tại ấp T, thị trấ C, huyện C, tỉnh Hậu Giang) điện thoại báo phòng trọ của anh đã bị cạy ổ khóa và có dấu hiệu bị lục xáo trộn. Tuy nhiên do anh T2 bận việc làm ăn nên đến ngày 29/10/2023 mới đến Công an thị trấn C để trình báo sự việc.
Vật chứng vụ án gồm: 01 đĩa DVD chưa 01 đoạn video dài 03 phút 23 giây bắt đầu từ 01 giờ 1 phút 56 giây, ngày 06/9/2023 được trích xuất từ camera trước của dãy nhà trọ H, hiện đang lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
Tại Kết luận định giá tài sản số 59/KL-ĐGTS ngày 24/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C đã định giá và kết luận:
01 laptop nhãn hiệu Dell, I C S, I i5, Ram 8C SSD 256G, windows 10, 15,6 inch có giá trị là 2.475.000 đồng;
01 cây đàn Guita nhãn hiệu Moris, 01 cái trống gõ bo nhãn hiệu Laxer, 01 áo khoát Jean nam và 01 ba lô không có cơ sở để xác định giá trị tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Trần Ngọc T2 yêu cầu bị cáo Đặng Yến T1 bồi thường số tiền 15.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 11/CT-VKS-HCTA ngày 20/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Đặng Yến T1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Yến T1 khai nhận hành vi phạm tội của mình và ăn năn hối cải xin giảm nhẹ hình phạt và đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng, đồng ý nộp lại số tiền thu lợi bất chính 700.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đặng Yến T1 về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Yến T1 từ 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2023.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch lưu 01 đĩa DVD chưa 01 đoạn video dài 03 phút 23 giây bắt đầu từ 01 giờ 1 phút 56 giây, ngày 06/9/2023 được trích xuất từ camera trước của dãy nhà trọ H thuộc ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đặng Yến T1 tự nguyện bồi thường bị hại Trần Ngọc T2 số tiền 15.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí hình sự: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Đặng Yến T1 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị hại Trần Ngọc T2 vắng mặt, không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A; Điều tra viên; kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Đối với bà bị hại Trần Ngọc T2 vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy lời khai của người này đã thể hiện rõ trong hồ sơ nên việc vắng mặt của anh T2 không ảnh hưởng đến quá trình xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt anh T2 là có căn cứ.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đặng Yến T1 thừa nhận hành vi phạm tội. Đối chiếu lời thừa nhận của người bị hại và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án là phù hợp, chứng minh được như sau: Vào khoảng 01 giờ ngày 06/9/2023, bị cáo Đặng Yến T1 lợi dụng sự sơ hở của bị hại, khi bị hại đi không có mặt tại phòng trọ, bị cáo đã lén lút, cạy ổ khóa lấy trộm một máy tính xách tay, một cây đàn ghi ta, một cái trống gõ bo, 01 áo khoát nam, một cái ba lô. Theo kết quả định giá tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 2.475.000 đồng, bị cáo bán để tiêu xài cá nhân.
[4] Về tội danh: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Yến T1, trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự.
[7] Xét về tính chất, mức độ phạm tội và hình phạt áp dụng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì bản chất lười lao động muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.
[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thu nhập không ổn định, không tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Tịch lưu hồ sơ 01 đĩa DVD chưa 01 đoạn video dài 03 phút 23 giây bắt đầu từ 01 giờ 1 phút 56 giây, ngày 06/9/2023 được trích xuất từ camera trước của dãy nhà trọ H thuộc ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
[10] Biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 700.000 đồng.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Đặng Yến T1 bồi thường bị hại Trần Ngọc T2 số tiền 15.000.000 đồng.
[12] Đối với hành vi của V và B anh đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang tiếp tục điều tra làm rõ.
[13] Từ những phân tích nêu trên xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
[14] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 292, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Yến T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Xử phạt: Bị cáo Đặng Yến T1 09 (chín) tháng tù giam.
Tổng hợp hình phạt tại Bản án hình sự số 18/2024/HS-ST ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang bị cáo Đặng Yến T1 bị xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hình phạt bị cáo Đặng Yến T1 phải chấp hành là 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch lưu hồ sơ 01 đĩa DVD chưa 01 đoạn video dài 03 phút 23 giây bắt đầu từ 01 giờ 1 phút 56 giây, ngày 06/9/2023 được trích xuất từ camera trước của dãy nhà trọ H thuộc ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
3. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Đặng Yến T1 bồi thường bị hại Trần Ngọc T2 số tiền 15.000.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp hợp có thỏa thuận khác.
4. Biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 700.000 đồng.
5. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
6. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Đặng Yến T1 phải chịu án phí hình sự là 200.000 đồng và phải chịu án phí dân sự 750.000 đồng.
7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
8. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Á |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRỘM MÁY TÍNH
