|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/DS-ST Ngày 14 tháng 5 năm 2024 V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Công Lương
- Ông Ngô Bá Dũng
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2024/TLST-DS ngày 18/01/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXX-DS ngày 22/4/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Võ Văn D, sinh năm 1983; Địa chỉ: C G, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Hà Đồng T- Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Có mặt tại phiên tòa.
-
Bị đơn: Bà Võ Thị Như C, sinh năm 1995 và ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991; Địa chỉ: C G, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Địa chỉ liên hệ: H V, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện theo ủy quyên của bà C có ông Nguyễn Văn Đ theo Hợp đồng ủy quyền ngày 29/3/2024. Ông Đ có mặt tại phiên tòa.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị Kim P, sinh năm 1988; Địa chỉ: C G, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện theo ủy quyền của bà P có ông Võ Văn D theo Giấy ủy quyền ngày 16/4/2024. Ông D có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Võ Văn D trình bày:
Tôi với bà Võ Thị Như C là anh em chú bác ruột, chồng bà C là ông Nguyễn Văn Đ là cán bộ công an. Do có quan hệ bà con nên vào đầu năm 2022 bà C gọi cho tôi nói rằng chồng của bà có nhiều mối quan hệ với những người cần vay tiền để đáo nợ ngân hàng, tôi có tiền tiết kiệm thì chung với bà C để bà C cho người cần tiền đáo nợ vay và bà C thỏa thuận trả lãi hàng tháng cho tôi là 3%.
Tôi có hỏi ông Đ và ông Đ đã xác nhận như bà C thông tin như trên. Vì chỗ bà con nên tôi hoàn toàn tin tưởng vào bà C và ông Đ, tôi đã chuyển cho vợ chồng bà C ông Đ với tổng số tiền là 650.000.000₫ (Sáu trăm năm mươi triệu đồng), trong đó, tôi đã chuyển tiền vào số tài khoản cá nhân của bà Võ Thị Như C, số tài khoản: 040907858036 tại ngân hàng S – chi nhánh S1 03 lần với tổng số tiền là 550.000.000đ (Năm trăm năm mươi triệu đồng), cụ thể:
- Lần (1): Ngày 17/01/2022, tôi đã chuyển 300.000.000 đồng;
- Lần (2): Ngày 20/01/2022, tôi đã chuyển 100.000.000 đồng;
- Lần (3): Ngày 23/02/2022, tôi đã chuyển 150.000.000 đồng;
Đến ngày 22/5/2023, theo đề nghị của bà C, tôi chuyển tiền mặt cho bà C thêm 02 lần với tổng số tiền 100.000.000 đồng. Các lần mượn tiền vì bà con nên tôi không yêu cầu viết giấy mà qua tin nhắn xác định bà C ông Đ có mượn của tôi số tiền 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng).
Bà C ông Đ có thanh toán lãi cho tôi, mặc dù không đều, không đầy đủ nhưng có thanh toán lãi đến tháng 9/2023. Qua sao kê Ngân hàng, tôi xác định ông Đ bà C đã chuyển khoản cho tôi số tiền 284.000.000đ (có bản kê Ngân hàng kèm theo). Từ tháng 10/2023 bà C không còn thanh toán cho tôi bất cứ khoản tiền lãi hay gốc nào nữa cả.
Tại buổi hòa giải ngày 19/4/2024, tôi xác định ông Đ bà C còn nợ tôi 316.000.000đ tiền gốc và yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật để tạo điều kiện cho ông bà trả nợ nhưng tôi không nhận được thiện chí từ ông bà mà còn nói tiền này tôi cho mượn không có lãi là không đúng với sự thật nên tại phiên tòa hôm nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đ bà C phải trả nợ cho tôi, số tiền lãi ông bà đã trả nếu vượt quá quy định pháp luật tôi đồng ý trừ vào tiền gốc; số tiền tôi tạm tính đến ngày 23/9/2023 mà ông Đ bà C còn nợ tôi tiền gốc là 479.444.365đ, tôi yêu cầu ông Đ bà C phải trả cho tôi số tiền 479.444.365đ (Bốn trăm bảy mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi bốn ngàn ba trăm sáu mươi lăm đồng) và không yêu cầu tính lãi.
* Tại bản tự khai, các Biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay đại diện bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Tôi xác nhận vợ chồng tôi có mượn của ông D số tiền 550.000.000 đồng qua hình thức chuyển khoản như ông D trình bày là đúng. Còn đối với số tiền nhận tiền mặt thì chúng tôi không có nhận. Tuy nhiên, khoảng thời gian từ năm 2022 đến tháng 9/2023 vợ chồng tôi đã trả cho ông D tổng cộng 391.000.000 đồng theo bảng kê mà tôi đã gửi đến Tòa án. Nay vợ chồng tôi xác nhận còn nợ ông D số tiền 159.000.000 đồng.
Đối với số tiền mặt tôi khai đã trả cho ông D thì tôi không có chứng cứ chứng minh. Đồng thời khi ông Võ Văn D cho bà Võ Thị Như C mượn thì không nói rõ cụ thể ngày trả, thời hạn trả nên hiện nay buộc trả số tiền rất khó với chúng tôi vì hiện nay bà C đang bị bệnh ung thư.
Chúng tôi không đồng ý với số tiền mà ông D trình bày vì đây là tiền mượn và không có quy định trả lãi nên chúng tôi không đồng ý tính lãi.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Thống nhất với ý kiến của nguyên đơn.
* Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Bà P là vợ của ông D. Theo như lời khai của ông Đ có chuyển khoản cho bà P số tiền 15.000.000 đồng vào các ngày 22/4/2022 chuyển 5.000.000 đồng và ngày 22/8/2023 chuyển 10.000.000 đồng. Đây là tiền mượn giữa bà P và bà C, không liên quan gì đến khoản tiền vay của ông D.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Võ Thị Như C phải trả cho ông Võ Văn D số tiền 479.444.365₫ (Bốn trăm bảy mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi bốn ngàn ba trăm sáu mươi lăm đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn ông Võ Văn D đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và bà Võ Thị Như C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố dụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Ông Võ Văn D và bà Võ Thị Như C là anh em chú bác ruột, ông Đ là chồng của bà C. Do có quan hệ bà con nên từ đầu năm 2022, ông D cho bà C ông Đ vay tiền để ông bà cho người khác vay lại đáo hạn ngân hàng và thỏa thuận trả lãi cho ông D mỗi tháng 3% trên số tiền vay. Ông D đã cho ông Đ bà C vay số tiền 600.000.000₫ với 03 lần chuyển khoản vào các ngày 17/01/2022 chuyển khoản 300.000.000đ; ngày 20/01/2022 chuyển khoản 100.000.000đ; n gày 23/02/2022 chuyển khoản 150.000.000đ; ngày 22/5/2023 đưa tiền mặt cho bà C 50.000.000₫. Quá trình vay tiền không viết giấy tờ nhưng có xác nhận bằng tin nhắn. Từ tháng 6/2022 đến tháng 9/2023, ông Đ bà C có chuyển khoản trả tiền lãi cho ông D số tiền 284.000.000đ. Nay ông D yêu cầu ông Đ bà C phải trả cho ông số tiền còn nợ là 479.444.365₫ (Bốn trăm bảy mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi bốn ngàn ba trăm sáu mươi lăm đồng) và không yêu cầu tính lãi.
Ông Nguyễn Văn Đ và bà Võ Thị Như C xác nhận có nợ ông Võ Văn D số tiền 550.000.000đ qua 3 lần chuyển khoản, còn với số tiền 50.000.000 ông D khai đưa tiền mặt là không có mà chỉ có nhắn tin qua lại nhưng chưa lấy tiền. Ông Đ xác định đây là khoản tiền mượn, quá trình mượn ông Đ bà C đã trả cho ông D nhiều lần bằng tiền mặt và chuyển khoản tổng cộng số tiền 391.000.000đ. Nay ông Đ bà C chỉ đồng ý trả cho ông D số tiền nợ còn lại là 159.000.000đ và không đồng ý với cách tính lãi của ông D.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
Ông Võ Văn D cung cấp cho Tòa án 01 Vi bằng số 22/2024/VB-TPLTT được lập ngày 19/01/2024 và các bản sao kê Ngân hàng thể hiện số tiền ông D đã chuyển khoản cho bà Võ Thị Như C tại các ngày 17/01/2022, 20/01/2022 và 23/02/2022 và tại tin nhắn bà C nhắn với ông D có nội dung “Gởi thêm 2xi cho tụi 1% lấy 3% đi” và “Gởi thêm 4tr đi cho tròn 1 tỷ”. Việc vay tiền giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, mặc dù không thể hiện bằng văn bản nhưng căn cứ vào các tài liệu chứng cứ Hội đồng xét xử xác định ông Nguyễn Văn Đ và bà Võ Thị Như C có vay của ông Võ Văn D số tiền 600.000.000đ và có thỏa thuận trả lãi hàng. Quá trình mượn tiền ông D nhiều lần yêu cầu ông Đ bà C trả lại tiền vay cho ông D nhưng ông Đ bà C không trả nên ông D khởi kiện yêu cầu trả lại tiền là phù hợp pháp luật.
Quá trình vay tiền các bên có thỏa thuận trả lãi hàng tháng, theo như ông D cung cấp thì ông Đ bà C đã trả được 15 lần tiền lãi tổng cộng 284.000.000đ. Nay ông D đồng ý tính lại lãi theo quy định pháp luật là 20%/năm với số tiền vay từ ngày 23/02/2022 cho đến ngày 22/9/2023 và khấu trừ số tiền lãi trả dư vào số tiền nợ gốc; ông D xác định ông Đ bà C còn nợ ông số tiền 479.444.365₫ (Bốn trăm bảy mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi bốn ngàn ba trăm sáu mươi lăm đồng) và yêu cầu ông Đ bà C phải trả số tiền trên cho ông và không yêu cầu tính lãi kể từ ngày 23/9/2023 đến nay. Đối với số tiền lãi ông D tính lại theo bảng tính ông nộp gởi kèm bản trình bày ngày 14/5/2024 với lãi suất 20%/năm tại từng thời điểm là phù hợp với Điều 468 Bộ luật dân sự.
[4] Đối với lời khai của đại diện bị đơn ông Nguyễn Văn Đ cho rằng vợ chồng ông bà chỉ mượn tiền ông Võ Văn D số tiền 550.000.000đ chứ không phải 600.000.000₫ và không có quy định trả lãi. Mặc dù việc vay mượn không được lập thành văn bản nhưng qua nội dung tin nhắn giữa bà Võ Thị Như C và ông Võ Văn D thể hiện ông D đưa tiền cho bà C ông Đ đi cho vay lại để lấy lãi và trả lãi cho ông D mỗi tháng 3% và bà C nhắn tin với nội dung “Gởi thêm 4tr đi cho tròn 1 tỷ” vào ngày 22/5/2023 có đủ căn cứ xác định tính đến ngày 22/5/2023 ông Võ Văn D đã cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Võ Thị Như C vay số tiền 600.000.000đ.
Ngoài ra ông Nguyễn Văn Đ khai đã trả cho ông D số tiền 391.000.000đ bằng hình thức tiền mặt và chuyển khoản. Đối với các khoản ông Đ khai trả bằng tiền mặt vào ngày 17/01/2022 là 9.000.000đ, ngày 21/02/2022 là 4.000.000đ, ngày 20/3/2022 là 13.000.000đ, ngày 22/4/2022 là 15.000.000đ, ngày 22/7/2022 là 20.000.000, ngày 22/8/2023 là 10.000.000đ thì ông D không thừa nhận và ông Đ cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình. Đối với 02 khoản tiền bà Võ Thị Như C chuyển khoản đến số tài khoản 108874070878 cho bà Hoàng Thị Kim P vào các ngày 22/4/2022 là 5.000.000₫ và 22/8/2023 là 10.000.000đ thì người đại diện theo ủy quyền của bà P khai rằng đây là khoản tiền bà C mượn riêng bà P vài ngày để giải quyết công việc nên bà C chuyển khoản trả cho bà P; mặc khác nội dung chuyển tiền bà C không ghi chuyển khoản cho Võ Văn D nên không có đủ căn cứ để chấp nhận. Đối với khoản tiền 10.000.000₫ chuyển khoản vào ngày 16/6/2022, ông Đ khai chuyển trả cho ông D nhưng ông D cho rằng trước đó bà C có mượn ông 20.000.000đ để giải quyết công việc không liên quan đến khoản nợ nên ngày 16/6/2022 bà C có đưa trả ông 10.000.000đ tiền mặt và chuyển khoản 10.000.000đ; đến chiều tối ngày 16/6/2022 bà C có chuyển khoản 17.000.000đ thì đây mới là khoản tiền lãi liên quan đến khoản nợ. Xét lời khai của ông D là phù hợp bởi trong cùng một ngày bà C không thể chuyển khoản hai khoản tiền vượt quá số tiền lãi của một tháng nên không chấp nhận đối với số tiền 10.000.000₫ mà ông Đ khai chuyển khoản ngày 16/6/2022. Đối với số tiền ông Đ khai chuyển khoản cho ông Võ Văn D vào ngày 20/5/2022 đến số tài khoản 0905399926 của ông Võ Văn D tại Ngân hàng V nhưng theo bản sao kê tại Ngân hàng V với kì sao kê từ 22/01/2022 đến ngày 28/9/2023 không có nội dung nhận tiền vào ngày 20/5/2022 nên không có căn cứ chấp nhận đối với số tiền chuyển khoản 20.000.000đ vào ngày 20/5/2022.
[5] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn – ông Nguyễn Văn Đ và bà Võ Thị Như C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 479.444.365đ là: 20.000.000 + ((479.444.365₫ - 400.000.000₫) x 4%) ~ 23.177.775₫ (Hai mươi ba triệu một trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm bảy mươi lăm đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 63, 147, 179, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 469 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa ông Võ Văn D đối với ông Nguyễn văn Đ và bà Võ Thị Như C.
-
Buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Võ Thị Như C phải trả cho ông Võ Văn D số tiền 479.444.365đ (Bốn trăm bảy mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi bốn ngàn ba trăm sáu mươi lăm đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Án phí Dân sự sơ thẩm: 23.177.775đ (Hai mươi ba triệu một trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm bảy mươi lăm đồng), ông Nguyễn Văn Đ và bà Võ Thị Như C phải chịu.
Hoàn trả cho ông Võ Văn D số tiền tạm ứng án phí 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) theo biên lai thu số 0000186 ngày 18/01/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
-
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |
Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 32/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi tài sản
