Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ÂN THI

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————————————

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 26 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Lương Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Chử

Bà Dương Thị Thu Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Thư ký Tòa án huyện Ân Thi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Hảo - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ân Thi tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 09/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn N sinh ngày 10/12/1982 Giới tính: Nam

Nơi sinh và nơi cư trú: Ấp P, xã Q, huyện Â.

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ học vấn: 9/12

Bố đẻ: Nguyễn Văn H, sinh năm 1950, Nghề nghiệp: Trồng trọt

Mẹ đẻ: Nghiêm Thị B, sinh năm 1958, Nghề nghiệp: Trồng trọt

Gia đình bị cáo có ba chị em, bị cáo là con thứ ba.

Vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1989, Nghề nghiệp: Trồng trọt

Bị cáo có ba con, con lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2021

Tiền án, tiền sự: Chưa có

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 09/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1989

Trú tại: Ấp P, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên

- Người làm chứng:

  1. Ông Đặng Ngọc B1, sinh năm 1971
    Trú tại: thôn Tượng Cước, xã Xuân Trúc, huyện Ân Thi, Hưng Yên
  2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965
    Trú tại: thôn T, xã X, huyện Â, Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma tuý nên khoảng 07 giờ ngày 03/01/2024, Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô biển số 89B1-822.08 đi một mình từ nhà đến Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Hưng Yên đóng tại thôn T, xã X, huyện  để uống thuốc Methadone theo chương trình điều trị nghiện ma túy. Tuy nhiên, khi đi N vẫn mang theo 1.000.000 đồng nhằm mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi N đi đến đoạn đường bê tông khu vực chợ X thuộc thôn C, xã X thì gặp một người đàn ông không biết tên, địa chỉ rồi mua của người đó được 15 gói giấy bạc màu trắng chứa chất màu trắng dạng cục và bột là ma túy Heroin, đựng trong 01 túi nilon màu trắng có viền mép màu đỏ với giá 1.000.000 đồng. Sau khi vào Cơ sở điều trị nghiện ma túy uống thuốc xong, N đi xe mô tô ra đỗ xe ở đoạn đường bê tông ở gần cổng Cơ sở điều trị nghiện ma túy đứng nghỉ ở đó. Đến 08 giờ cùng ngày, Tổ công tác của Công an huyện  và Công an xã X tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn thấy N có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện tại bàn tay phải của N có 01 túi nilon màu trắng có viền mép mở màu đỏ bên trong có 15 gói giấy bạc màu trắng bên trong mỗi gói đều chứa chất dạng cục và bột, N khai nhận là H1 mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ, quản lý: 01 túi nilon màu trắng có viền mép mở màu đỏ kích thước (06x9,5) cm bên trong có 15 gói giấy bạc màu trắng bên trong mỗi gói đều chứa chất dạng cục và bột màu trắng kích thước (1,5x02)cm được niêm phong trong phong bì ký hiệu (I); 01 chiếc xe mô tô biển số 89B1-822.08; 01 chiếc ví da màu nâu kích thước (10x12)cm, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 112313, 01 giấy phép lái xe số AD818912, 01 thẻ điều trị Methadone số 321.004.0008 của N. Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 03/01/2024 đối với N, kết quả xét nghiệm: Dương tính.

Tại Kết luận giám định số 148/KL-KTHS (MT) ngày 06/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu (I), có khối lượng là 1,974g là ma tuý, loại Heroine Hoàn lại sau giám định: 1,933g ma tuý, loại Heroine, 01 túi nilon, các mảnh giấy bạc và 01 vỏ phong bì trong một niêm phong ghi số 148/KL-KTHS (MT).

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về vật chứng của vụ án: Thu giữ của bị cáo 1,933g Heroine, 01 vỏ túi nilon, các mảnh giấy bạc và 01 vỏ phong bì trong niêm phong ghi số 148/KL-KTHS (MT), 01 chiếc ví da màu nâu hiện được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ân Thi.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 89B1-822.08: Quá trình điều tra xác định chiếc xe này là của chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1989 ở Ấp P, xã Q (là vợ của bị cáo N). Chị L đã mua chiếc xe này của người đứng tên trong đăng ký xe là anh Phạm Phú Đ sinh năm 1991 ở thôn M, xã N, huyện  từ năm 2020 với giá 13.000.000 đồng, các bên không làm giấy tờ mua bán mà chỉ đưa giấy đăng ký của xe. Ngày 03/01/2024, chị L cho N mượn chiếc xe này để đi uống thuốc Methadone, chị L không biết việc N tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua tra cứu, chiếc xe này không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 31/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện  trao trả cho chị L nhận lại 01 chiếc xe mô tô biển số 89B1-822.08, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 112313 cùng 01 giấy phép lái xe số AD818912 và 01 thẻ điều trị Methadone số 321.004.0008 của N.

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho bị cáo N, nhưng do bị cáo khai không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện  tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSAT ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đề nghị HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng số 29/CT-VKSAT ngày 08/4/2024. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Đề nghị HĐXX tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
  • Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024
  • Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 1,933g (Một phẩy chín ba ba gam) Heroine (H), 01 vỏ túi nilon, các mảnh giấy bạc và 01 vỏ phong bì trong niêm phong ghi số 148/KL-KTHS (MT), 01 chiếc ví da màu nâu hiện được quản lý tại kho vật chứng của chi cục THA huyện Â
  • Đối với chiếc xe mô tô biển số 89B1-822.08: Ngày 31/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện  trao trả cho chị L nhận lại 01 chiếc xe mô tô biển số 89B1-822.08, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 112313 cùng 01 giấy phép lái xe số AD818912 và 01 thẻ điều trị Methadone số 321.004.0008 của N. Việc trao trả chiếc xe cho chị L là phù hợp và đúng quy định nên đề nghị không xem xét.
  • Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng là ông Đặng Ngọc B1 và ông Nguyễn Văn T, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 03/01/2024, tại khu vực đoạn đường bê tông thuộc thôn T, xã X, huyện Â, Nguyễn Văn N đang có hành vi cất giấu trái phép trên người 15 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa ma tuý, loại Heroine có tổng khối lượng 1,974g mục đích để sử dụng trái phép, thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma túy nói chung và H2 nói riêng. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên có đủ nhận thức để biết rằng hành vi tàng trữ ma túy của mình là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hiện nay, các tội phạm về ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây bất ổn đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử kịp thời, nghiêm minh là rất cần thiết mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử còn cân nhắc, xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để áp dụng một hình phạt tương xứng.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và hình phạt

Về tình tiết tăng nặng: Đối chiếu với các quy định của Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào;

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố vợ là ông Nguyễn Văn S được tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, tuy nhiên bị cáo đã phạm tội nghiêm trọng, bản thân bị cáo đối tượng nghiện ma túy nhiều năm (từ năm 2001), bị cáo đang trong thời gian đăng ký uống methadole để cai nghiện nhưng bị cáo không có bản lĩnh, không tu dưỡng rèn luyện bản thân lại thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, xét cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Heroine là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy 1,933g Heroine. Đối với 01 vỏ túi nilon, các mảnh giấy bạc và 01 vỏ phong bì trong niêm phong ghi số 148/KL-KTHS (MT), 01 chiếc ví da màu nâu hiện được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ân Thi không còn giá trị nên sẽ tịch thu cho tiều hủy.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 89B1-822.08: Quá trình điều tra xác định chiếc xe này là của chị Nguyễn Thị L, ngày 03/01/2024, chị L cho N mượn chiếc xe để đi uống thuốc Methadone, chị L không biết việc N tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua tra cứu, chiếc xe này không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 31/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện  trao trả cho chị L chiếc xe, 01 giấy phép lái xe số AD818912 và 01 thẻ điều trị Methadone số 321.004.0008 của N là đúng pháp luật.

[5] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy

Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo N 02(hai) năm tù, thời hạn tính từ ngày 03/01/2024.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy tịch thu tiêu hủy 1,933g Heroine, 01 vỏ túi nilon, các mảnh giấy bạc và 01 vỏ phong bì trong niêm phong ghi số 148/KL-KTHS (MT), 01 chiếc ví da màu nâu hiện được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ân Thi

(Đặc điểm chi tiết các vật chứng được thể hiện theo Quyết định chuyển vật chứng số 28/QĐ-VKSAT ngày 08/4/2024 của VKS huyện Â1, tỉnh Hưng Yên và được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2024.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo:

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND huyện Ân Thi;
  • - Cq CSĐT- CA huyện Ân Thi;
  • - Bị cáo (TTG);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cq THAHS-CA huyện Ân Thi;
  • - Chi cục THADS huyện Ân Thi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lương Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger