|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST Ngày 19-4-2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quyết
Bà Nguyễn Thị Tâm
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện VB tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024; Quyết đinh hoãn phiên tòa số 40/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị N; nơi cư trú: Thôn NM, xã VQ, huyện VB, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Trần Văn O; nơi cư trú: Thôn NM, xã VQ, huyện VB, thành phố Hải Phòng; vắng mặt không có lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị N trình bày: Chị và anh Trần Văn O kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 24-02-2005 tại Ủy ban nhân dân xã VQ, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận thời gian đầu và có ba con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên đã xảy ra bất hòa. Từ tháng 12/2023 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau, đối xử với nhau lạnh nhạt. Nay nhận thấy tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn O.
Về con chung: Chị và anh Trần Văn O có 03 con chung là Trần Mai H, sinh ngày 07-3-2006, hiện nay đã trưởng thành, Trần B N, sinh ngày 19-6-2017 và Trần Gia B, sinh ngày 19-6-2017. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con Trần B N cho chị nuôi dưỡng, giao con Trần Gia B cho anh O nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị xin tự giải quyết với anh O .
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Văn O xác nhận về điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị Bùi Thị N trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc thời gian đầu và có ba con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2023 do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên đã xảy ra bất hòa. Từ tháng 12/2023 đến nay chị N đã thuê nhà ở riêng. Vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị N xin ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh và chị Bùi Thị N có 03 con chung Trần Mai H, sinh ngày 07-3-2006, hiện nay đã trưởng thành, Trần B N, sinh ngày 19-6-2017 và Trần Gia B, sinh ngày 19-6-2017. Trường hợp vợ chồng ly hôn, anh đồng ý để chị N nuôi cháu Trần B N, anh xin nuôi cháu Trần Gia B. Việc cấp dưỡng nuôi con anh xin tự giải quyết với chị N.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ, việc xét xử vắng nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn không tham gia đầy đủ phiên họp, phiên hòa giải, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt không có lý do, tuy nhiên vi phạm của bị đơn không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Trần Văn O. Về con chung: Giao con Trần B N, sinh ngày 19-6-2017 cho chị Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Trần Gia B, sinh ngày 19-6-2017 cho anh Trần Văn O trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị Bùi Thị N xin tự giải quyết với anh Trần Văn O nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị N và anh Trần Văn O không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Bùi Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Anh Trần Văn O có hộ khẩu thường trú tại Thôn NM, xã VQ, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn giữa chị Bùi Thị N và anh Trần Văn O thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.
[2] Tại phiên tòa chị Bùi Thị N vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, Anh Trần Văn O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa, tuy nhiên anh O vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Bùi Thị N và anh Trần Văn O.
- Về nội dung vụ án:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị N và anh Trần Văn O kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã VQ, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 24-02-2005, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận thời gian đầu và có ba con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên đã xảy ra bất hòa. Nay chị Bùi Thị N xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị được ly hôn anh Trần Văn O. Quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Văn O không đồng ý ly hôn với chị N. Qua xác minh thì thấy, vợ chồng chị N và anh O có mâu thuẫn, từ tháng 12/2023 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu của chị Bùi Thị N xin ly hôn anh Trần Văn O phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình được chấp nhận.
[4] Về con chung: Chị Bùi Thị N và anh Trần Văn O có ba con chung là Trần Mai H, sinh ngày 07-3-2006 hiện nay đã trưởng thành, Trần B N, sinh ngày 19-6-2017 và Trần Gia B, sinh ngày 19-6-2017. Khi ly hôn, chị N và anh O cùng đề nghị Tòa án giao con Trần B N cho chị N nuôi dưỡng, giao con Trần Gia B cho anh O nuôi dưỡng. Xét yêu cầu đề nghị nuôi con chung của anh chị, Hội đồng xét xử nhận định: Chị N và anh O có nơi ở và thu nhập ổn định, cháu Trần B N hiện đang ở với chị N, cháu Trần Gia B hiện đang ở với anh O . Vì vậy, để đảm B quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của anh chị, giao con chung Trần B N cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung là Trần Gia B cho anh O trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Bùi Thị N xin tự giải quyết với anh Trần Văn O nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Bùi Thị N và anh Trần Văn O không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Bùi Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Trần Văn O.
- Về con chung: Giao con chung là Trần B N, sinh ngày 19-6-2017 cho chị Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Trần Gia B, sinh ngày 19-6-2017 cho anh Trần Văn O trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị Bùi Thị N xin tự giải quyết với anh Trần Văn O nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Bùi Thị N và anh Trần Văn O không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Bùi Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Bùi Thị N đã nộp tạm ứng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009249 ngày 04 tháng 3 năm 2024. Chị Bùi Thị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn tranh chấp nuôi con chia tai sản giữa chị Bùi Thị N và anh Trần Văn O
