|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20-6-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền
- Bà Nguyễn Ngọc Nhuận
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phước Mãi – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu G, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số A, ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. (xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/02/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trần Thị Thu G trình bày tóm tắt như sau: Bà G và ông Nguyễn Ngọc P tự quen biết, tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/02/2019, số 28. Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thị Lin Đ, sinh ngày 02/8/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến đầu năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, hai bên đã không còn sống chung với nhau từ đầu năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông P. Về con chung, khi ly hôn, bà G yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Bà G xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn là ông Nguyễn Ngọc P thể hiện yêu cầu ly hôn cũng như về quyền nuôi con chung của bà G, nhưng ông P không có ý kiến trình bày nào gởi cho Tòa án thể hiện sự phản đối yêu cầu khởi kiện của bà G.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bị đơn là ông Nguyễn Ngọc P không tham gia phiên họp, không tham gia phiên hòa giải. Nguyên đơn là bà Trần Thị Thu Giàu c đơn đề nghị không hòa giải, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật. Bà Giàu có đơn xin xét xử vắng mặt, ông P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa mà vẫn vắng mặt, căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân giữa các bên, thấy rằng: Bà Trần Thị Thu G và ông Nguyễn Ngọc P chung sống với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/02/2019, số 28, nên quan hệ hôn nhân của bà G và ông P là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.
[2.2] Xét yêu cầu ly hôn của bà G thấy rằng: Bà G xác định vợ chồng đã có nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, hai bên đã không còn sống chung từ đầu năm 2022 cho đến nay, nên mới khởi kiện xin ly hôn với ông P. Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn là ông Nguyễn Ngọc P thể hiện yêu cầu ly hôn của bà G, nhưng ông P không có ý kiến trình bày nào gởi cho Tòa án thể hiện sự phản đối yêu cầu khởi kiện của bà G. Điều đó cho thấy, mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà G đối với ông P.
[2.3] Về quyền nuôi con chung: Bà G xác định bà và ông P có 01 con chung tên Nguyễn Thị Lin Đ, sinh ngày 02/8/2016, hiện đang do bà G trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà G yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Cháu Lin Đ có bản khai thể hiện nguyện vọng là muốn sống chung với mẹ trong trường hợp cha mẹ ly hôn. Ông P cũng không có ý kiến phản đối, nên Hội đồng xét xử quyết định giao cho bà G được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Lin Đ.
[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này đương sự có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn là bà Trần Thị Thu G phải chịu 300.000đ án phí ly hôn. Bị đơn là ông Nguyễn Ngọc P không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 86 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thu G được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc P.
- Về quyền nuôi con chung: Bà Trần Thị Thu G được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Lin Đ, sinh ngày 02/8/2016, hiện đang do bà G trực tiếp nuôi dưỡng.
- Ông Nguyễn Ngọc P có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp ông P lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Giàu có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông P theo quy định của pháp luật. Bà G cùng các thành viên gia đình không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con của ông P.
- Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bà G, ông P, người thân thích của cháu Lin Đ, Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định của pháp luật.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Thu G phải chịu 300.000đ án phí ly hôn. Chuyển số tiền 300.000đ tạm ứng án phí bà G đã nộp theo biên lai thu số 0003544 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh sang thi hành án phí, nên bà G không phải nộp tiếp.
- Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Giàu xin ly hôn với ông Phượng vì mâu thuẫn gia đình
