TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST
Ngày 21-6-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đèo Văn Vĩnh; Ông Lò Văn Chiên.
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đào Mạnh Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 110/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 4 năm 2024, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vàng Thị L, sinh năm: 1989, địa chỉ: Bản L, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lò Văn T, sinh năm: 1984, địa chỉ: Bản L, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vàng Thị L trình bày:
Chị Vàng Thị L và anh Lò Văn T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 26/11/2010, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu cấp. Chị L và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, chị L và anh T chung sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2021 thì thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T đã sử dụng chất ma túy, giữa chị L, anh T xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Chị L và anh T đã sống ly thân từ năm 2021, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai, không liên lạc với nhau. Hiện nay, chị L không còn tình cảm với anh T nữa, vợ chồng không còn có sự quan tâm, chia sẻ với nhau, tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị L được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị Vàng Thị L và anh Lò Văn T và có 02 con chung là cháu Lò Khánh H, sinh ngày 29/8/2010 và cháu Lò Thị Phương L1, sinh ngày 09/10/2012. Từ khi chị L, anh T sống ly thân thì các cháu H, L1 ở cùng với chị L, được chị L quan tâm, chăm sóc. Sau khi ly hôn, chị L có đủ điều kiện để nuôi con và có nguyện vọng được nuôi các con. Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vàng Thị L và anh Lò Văn T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung, anh T khai đúng như lời khai của chị L. Về giải quyết vụ án: Anh T nhất trí ly hôn với chị L. Về nuôi con sau ly hôn, anh T hiện nay đang đi chấp hành án phạt tù, không có điều kiện nuôi con nên anh T nhất trí giao cháu H, cháu L1 cho chị L trực tiếp nuôi. Anh Thinh không có yêu cầu phản tố.
Tòa án đã thông báo phiên hòa giải nhưng tại phiên hòa giải, nguyên đơn vắng mặt nên vụ án không hòa giải được.
Theo lời khai của cháu Lò Khánh H và cháu Lò Thị Phương L1: Hiện nay, các cháu đang ở với mẹ, được mẹ yêu thương, quan tâm, chăm sóc. Nếu bố mẹ các cháu ly hôn thì các cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Kết quả xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ của Tòa án, xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chị Vàng Thị L, anh Lò Văn T và điều kiện nuôi con của chị L, anh T đúng như lời khai của các đương sự. Anh T hiện đang chấp hành án tại Trại giam H1, tỉnh Yên Bái.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đã đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vàng Thị L, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị L được ly hôn với anh Lò Văn T. Về con chung: Giao cháu Lò Khánh H và cháu Lò Thị Phương L1 cho chị Vàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Vàng Thị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào diễn biến phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là chị Vàng Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị L và bị đơn là anh Lò Văn T. Chị L và anh T đều cư trú tại bản Lang 2, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vì vậy, đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt, đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị L và anh Lò Văn T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu theo đúng quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị L và anh T chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T có sử dụng chất ma túy, giữa hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không chia sẻ, thông cảm cho nhau. Từ khi chị L và anh T sống ly thân, anh chị không còn có sự quan tâm, chia sẻ, yêu thương với nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Hiện nay, chị L không còn tình cảm với anh T nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Anh T cũng nhất trí ly hôn với chị L. Tòa án đã thông báo phiên hòa giải và triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải nhưng tại phiên hòa giải, chị L vắng mặt nên không hòa giải được. Giữa chị L và anh Thinh k còn có sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc, yêu thương nhau, quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L, giải quyết cho chị L được ly hôn với anh T theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Vàng Thị L và anh Lò Văn T và có 02 con chung là cháu Lò Khánh H, sinh ngày 29/8/2010 và cháu Lò Thị Phương L1, sinh ngày 09/10/2012. Từ khi chị L, anh T sống ly thân, các con của anh chị sống cùng với chị L, được chị L quan tâm, chăm sóc. Khi được Tòa án hỏi ý kiến, các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Hiện nay, chị L có đủ sức khỏe, có đủ khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con. Ngoài ra, chị L có bố mẹ đẻ thường xuyên quan tâm, hỗ trợ chị L chăm sóc, giáo dục các con. Anh T hiện đang chấp hành án nên không có điều kiện để nuôi con, anh T nhất trí sau khi ly hôn, giao các con cho chị L trực tiếp nuôi. Vì vậy, để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu H, cháu L1 cho chị L là người trực tiếp nuôi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh T có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vàng Thị L không yêu cầu anh Lò Văn T cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Vàng Thị L và anh Lò Văn T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị L được ly hôn với anh Lò Văn T.
- - Về con chung: Giao cháu Lò Khánh H, sinh ngày 29/8/2010 và cháu Lò Thị Phương L1, sinh ngày 09/10/2012, cho chị Vàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vàng Thị L không yêu cầu anh Lò Văn T cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về tài sản: Chị Vàng Thị L và anh Lò Văn T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vàng Thị L được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị L xin ly hôn
