Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày: 19-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Hồng Thảo Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lài;

Ông Lâm Văn Be.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phạm Thế Ân – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16 và 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

Trần Ngọc V, sinh năm 2001 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Lê Thị L; vợ Trần Thị Ngọc T (đã ly hôn), con có 01 người sinh năm 2020.

  • - Tiền án: Không có.
  • - Tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/12/2023, chuyển tạm giam ngày 23/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C cho đến nay (có mặt).

Trần Minh T1, sinh năm 1991 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc S và bà Phạm Kim N; vợ con chưa có.

  • - Tiền án: Không có.
  • - Tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/12/2023, chuyển tạm giam ngày 23/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/12/2023, Trần Ngọc V đi đến nhà Trần Minh T1 tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh chơi, V rủ T1 đi mua chất ma túy Methamphetamine (thường gọi là ma tuý đá) về sử dụng, T1 đồng ý nhưng nói T1 không có tiền, V nói sẽ mua được bằng cách nợ lại tiền người bán, T1 đồng ý cùng V đi mua chất ma tuý về sử dụng. Sau đó, V điều khiển xe mô tô biển số 70B1-118.30 chở T1 đi đến khu vực cửa 6 chùa T3 thuộc phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh tìm gặp một người thanh niên tên T2 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) để mua 2.600.000 đồng chất ma túy, T2 đồng ý bán nhưng cho nợ lại tiền, T2 đưa một bịch chất ma túy được bỏ trong một đoạn ống nhôm rỗng hai đầu, V kêu T1 nhận và cất giấu vào trong người, V điều khiển xe mô tô chở T2 đi về. Trên đường về, do không tìm được địa điểm để sử dụng chất ma túy, V kêu T1 đi đến khu vực xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tìm thuê nhà nghỉ để sử dụng chất ma túy, khi đi đến khu vực cầu nổi thuộc xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, V kêu T1 đưa bịch chất ma túy cho V giữ, T1 đưa chất ma túy cho V cầm trên tay, V tiếp tục điều khiển xe mô tô chở T1 đi đến trước cổng nhà nghỉ T4 thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C phát hiện bắt quả tang hồi 14 giờ 50 phút cùng ngày. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của Trần Ngọc V 01 đoạn ống nhôm màu trắng, bên trên có dòng chữ “Đại Tấn” và “Tân Thành”, 01 bịch ny lon màu trắng, có một đầu kéo xếp viền màu đỏ bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng được niêm phong theo quy định (ký hiệu M1) và một số vật chứng liên quan.

Tiến hành thử nhanh chất ma túy đối với Trần Ngọc VTrần Minh T1, kết quả V dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine, T1 dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine và M.

* Kết luận giám định số 1988/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M1) bên trong 01 bịch nylon màu trắng có một đầu kéo xếp viền màu đỏ gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 10,0349 gam. Đối tượng còn lại sau giám định là 9,8988 gam.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1988, có chữ ký xác nhận của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Nguyễn Thị Thùy D và được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.
  • - 01 (một) đoạn ống nhôm màu trắng, bên trong có dòng chữ “Đại Tân” và “Tân Thành”;
  • - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Realme, loại: C30S, màu xanh, số IMEI 1: 860936062865468, số IMEI2: 860936062865450 (đã qua sử dụng);
  • - 04 (bốn) đoạn ống thủy tinh (đã qua sử dụng);
  • - 01 (một) bịch nylon màu trắng có một đầu kéo xếp viền màu đỏ, bên trong rỗng (đã qua sử dụng).

Về kê biên tài sản: Do các bị cáo không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Đối với người tên T2 bán ma túy cho Trần Ngọc V không xác định được nhân thân, địa chỉ nên chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Đối với xe mô tô biển số 70B1-118.30 của ông Trần Văn B là cha ruột của Trần Ngọc V, việc V dùng xe mô tô đi mua chất ma tuý ông B không biết nên không đề nghị xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 23/CT-VKSCT ngày 04/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Trần Ngọc V, Trần Minh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc V từ 06 đến 07 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản.
  • Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Minh T1 từ 06 đến 07 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản.
  • - Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Bị cáo V: Bị cáo đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo trở về với gia đình.

Bị cáo T1: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án chứng minh được:

Vào lúc 14 giờ 50 phút ngày 17/12/2023, tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, Bị cáo Trần Ngọc VTrần Minh T1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, loại chất ma tuý là Methamphetamine, khối lượng 10,0349 gam thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt quả tang. Xét thấy, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện nên hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng chất ma túy của nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện chất ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần; bên cạnh đó ma túy còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm tạo một môi trường sống không có tệ nạn xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, nhằm đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét đến nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Ngày 18/11/2019, bị cáo V bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tây Ninh, đã chấp hành xong ngày 06/7/2020.

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Đối với vật chứng thu giữ là ma túy, cùng công cụ liên quan để sử dụng ma túy là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy gồm:

  • - 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1988, có chữ ký xác nhận của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Nguyễn Thị Thùy D và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M1) là M1 có khối lượng còn lại sau giám định là 9,8988 gam.
  • - 01 (một) đoạn ống nhôm màu trắng, bên trong có dòng chữ “Đại Tân” và “Tân Thành”; 04 (bốn) đoạn ống thủy tinh (đã qua sử dụng); 01 (một) bịch nylon màu trắng có một đầu kéo xếp viền màu đỏ, bên trong rỗng (đã qua sử dụng).
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Realme, loại: C30S, màu xanh, số IMEI 1: 860936062865468, số IMEI2: 860936062865450 (đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo V, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc V, bị cáo Trần Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc V 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 17/12/2023.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Minh T1 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 17/12/2023.

2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1988, có chữ ký xác nhận của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Nguyễn Thị Thùy D và được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.
  • + 01 (một) đoạn ống nhôm màu trắng, bên trong có dòng chữ “Đại Tân” và “Tân Thành” là vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
  • + 04 (bốn) đoạn ống thủy tinh (đã qua sử dụng);
  • + 01 (một) bịch nylon màu trắng có một đầu kéo xếp viền màu đỏ, bên trong rỗng (đã qua sử dụng).
  • - Trả lại cho bị cáo Trần Ngọc V: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Realme, loại: C30S, màu xanh, số IMEI 1: 860936062865468, số IMEI2: 860936062865450 (đã qua sử dụng).

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/3/2024).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Ngọc V, bị cáo Trần Minh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Hồng Thảo Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trần Ngọc V, bị cáo Trần Minh T1phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger