Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẠCH THÔNG

TỈNH BẮC KẠN

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày: 18/9/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Tập

Ông Đinh Văn Tuyền

Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Bưởi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thuật - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Triệu Ngọc H

(tên gọi khác: Không), sinh ngày 21 tháng 02 năm 1995 tại B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Phúc S và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Đặng Thị P, có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/11/2012 bị Chủ tịch UBND huyện B áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào trường G; ngày 03/9/2015 bị Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Kạn xử phạt 07 năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy” – ngày 02/02/2021 chấp hành xong; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến đến nay, có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Bùi Mạnh H1 – Sinh năm 1986. Vắng mặt
  2. HKTT và nơi ở hiện nay: Tổ C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

  3. Bà Nguyễn Thị L – Sinh năm 1965. Có mặt
  4. HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 00 phút ngày 12/6/2024, Tổ công tác Phòng C Công an tỉnh B bắt quả tang đối tượng Triệu Ngọc H, sinh năm 1995, trú tại: Thôn N, xã N, huyện B đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại km 163+850 Quốc lộ C thuộc thôn K, xã C, huyện B. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Triệu Ngọc H, niêm phong 01 (một) gói nhỏ được gói bằng mảnh nilon màu trắng đục, bên trong có chứa chất màu trắng lẫn màu hồng nghi vấn là ma túy trong phong bì ký hiệu “H” và chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 12/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B mở niêm phong và cân xác định khối lượng chất nghi vấn là ma túy thu giữ được của Triệu Ngọc H, xác định: Tổng khối lượng số chất màu trắng lẫn màu hồng có trong 01 gói nhỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “H” nêu trên là 0,815g (không phẩy tám một năm gam). Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Triệu Ngọc H, kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết luận giám định số: 211/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu chất màu trắng lẫn màu hồng trong phong bì ký hiệu GĐ gửi giám định là ma túy; loại Heroine và loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,815g.

Quá trình điều tra, truy tố Triệu Ngọc H khai nhận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 12/6/2024 Triệu Ngọc H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE mang biển kiểm soát 97B1- 592.35 từ nhà ở tại thôn N, xã N, huyện B xuống thành phố B mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến phường H, thành phố B thì H vào hiệu thuốc mua 01 xi lanh nhựa và 01 lọ nước cất, rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô xuống Trung tâm điều trị Methadone thành phố B, tỉnh Bắc Kạn gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên là S1, khoảng 40 tuổi (không rõ địa chỉ ở đâu) có biểu hiện bán ma túy, H hỏi mua ma túy rồi đưa cho người đàn ông đó số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), người này đồng ý cầm tiền và đưa lại cho H 01 (một) gói nhỏ được gói bằng túi nilon màu trắng đục bên trong có chứa chất ma túy. H cầm lấy gói ma túy và đi ra phía sau Trung tâm điều trị M sử dụng đi một phần, số ma túy còn lại gói lại rồi cất vào dưới nắp ốp nhựa bình xăng xe mô tô và điều khiển xe đi về. Khi đi về đến đoạn đường K+850 Quốc lộ C, thuộc thôn K, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn thì bị tổ công tác Phòng C Công an tỉnh B kiểm tra bắt quả tang.

Về vật chứng, tài sản tạm giữ trong vụ án, gồm:

  • - 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “VC” bên trong có: 01 (một) mảnh nilon màu trắng đục và phong bì niêm phong ban đầu kí hiệu “H”.
  • - 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “T131” bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,735g (không phẩy bảy ba năm gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định.
  • - 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “H2” bên trong có 01 (một) ví màu nâu cũ đã qua sử dụng bên trong ví gồm có: 01 Căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ MMT (thẻ điều trị Methadone) đều mang tên Triệu Ngọc H.
  • - 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “ĐT” bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng vàng màn hình cảm ứng có số thuê bao 0987882931 cũ đã qua sử dụng cùng phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu "H1".
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE, màu sơn trắng bạc đen, biển kiểm soát 97B1- 592.35; số máy JF6E1456228; số khung 6309FZ456178 và 01 chìa khóa xe.

Ngày 04/7/2024 bà Nguyễn Thị L đã giao nộp 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 046724 mang tên Bùi Mạnh H1 cho Cơ quan CSĐT Công an huyện B.

Cáo trạng số: 30/CT-VKSBT ngày 28/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn truy tố Triệu Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Mạnh H1 trình bày: Anh H1 có sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE, màu sơn trắng bạc đen, biển kiểm soát 97B1- 592.35, đăng ký xe mang tên Bùi Mạnh H1. Vào khoảng năm 2021, anh H1 đã bán chiếc xe mô tô trên cho một người phụ nữ với số tiền 26.500.000đ (hai mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng), do thời gian đã lâu nên anh H1 không nhớ rõ tên, tuổi của người đã mua xe; khi bán xe anh H1 đã đưa đăng kí xe cho người phụ nữ mua xe. Quá trình mua bán chỉ thỏa thuận miệng, không làm hợp đồng mua bán xe. Do anh H1 đã bán chiếc xe mô tô trên, nên anh H1 không có yêu cầu, đề nghị gì đối với chiếc xe mô tô trên.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Triệu Ngọc H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Do chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE, màu sơn trắng bạc đen, biển kiểm soát 97B1- 592.35 là của bà Nguyễn Thị L (mẹ của bị cáo), bị cáo mượn xe của bà L đi uống methadone, việc bị cáo sử dụng xe để đi mua ma tuý bà L không biết nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà L. Bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIR BLADE, màu sơn trắng bạc đen, biển kiểm soát 97B1- 592.35, số máy JF6E1456228; số khung 6309FZ456178 là của bà L. Chiếc xe mô tô trên được bà L mua của anh Bùi Mạnh H1 ở thành phố B với số tiền 26.500.000₫ vào khoảng tháng 01 năm 2021 khi Triệu Ngọc H đang đi chấp hành án. Số tiền dùng để mua xe là của bà L, Triệu Ngọc H không có công sức đóng góp (không góp tiền) để mua xe. Ngày 12/6/2024 H mượn xe bà L để đi uống thuốc methadone, bà L không biết H sử dụng xe đi mua và tàng trữ ma tuý. Do chiếc xe mô tô thuộc sở hữu của bà L nên bà L đề nghị HĐXX trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà L.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố: Triệu Ngọc H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Bộ luật hình sự, xử phạt: Triệu Ngọc H từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 12/6/2024). Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu VC bên trong có 01 (một) mảnh nilon màu trắng đục, 01(một) phong bì niêm phong ban đầu kí hiệu “H”; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu T131 bên trong có 0,735g (không phẩy bảy ba năm gam) ma túy loại Heroin và loại Methamphetamine cùng phong bì ký hiệu GĐ, bao gói cũ do cơ quan giám định hoàn trả; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “H2”; 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “H1”; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “ĐT”.
  • + Trả lại cho bị cáo H: 01 (một) ví màu nâu cũ đã qua sử dụng; 01 Căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ MMT (thẻ điều trị Methadone) đều mang tên Triệu Ngọc H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone, màu trắng vàng, màn hình cảm ứng, bên trong có 01 sim số thuê bao 0987882931 cũ đã qua sử dụng.
  • + Trả lại cho bà Nguyễn Thị L: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE, màu sơn trắng bạc đen, biển kiểm soát 97B1- 592.35; số máy JF6E1456228; số khung 6309FZ456178, xe cũ đã qua sử dụng, không có gương bên phải, hai bên yếm có nhiều vết xước, giá tay sách sau xe có nhiều vết xước; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 046724 mang tên Bùi Mạnh H1 và 01(một) chìa khóa xe.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Mạnh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, đại diện Viện kiểm sát không ai đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa, hồ sơ vụ án thể hiện lời khai của anh H1 trong quá trình điều tra đã đầy đủ, việc anh H1 vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện B và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên, có cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 00 phút ngày 12/6/2024, tại km 163+850 Quốc lộ C thuộc thôn K, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Triệu Ngọc H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,815g ma túy, loại Heroine và Methamphetamine, mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Nội dung Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định như sau:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)......

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

[3]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát; của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Xét thấy Cáo trạng số 30/CT-VKSBT ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn truy tố Triệu Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, về xử lí vật chứng, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.

Xét đề nghị của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L về việc trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE, màu sơn trắng bạc đen, biển kiểm soát 97B1- 592.35, số máy JF6E1456228, số khung 6309FZ456178 là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.

Xét đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Mạnh H1: Anh H1 đã bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE, màu sơn trắng bạc đen, biển kiểm soát 97B1- 592.35; số máy JF6E1456228; số khung 6309FZ456178 nên anh H1 không có yêu cầu, đề nghị đối với chiếc xe mô tô trên là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.

[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu (ngày 20/11/2012 bị Chủ tịch UBND huyện B áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, ngày 03/9/2015 bị Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Kạn xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”).

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý, không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định; do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu VC bên trong có 01 (một) mảnh nilon màu trắng đục, 01(một) phong bì niêm phong ban đầu kí hiệu “H; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “H2”; 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “H1”; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “ĐT” ” là vật không còn giá trị sử dụng; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu T131 bên trong có 0,735g (không phẩy bảy ba năm gam) ma túy loại heroin và loại methamphetamine cùng phong bì ký hiệu GĐ, bao gói cũ do cơ quan giám định hoàn trả là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • + 01 (một) ví màu nâu cũ đã qua sử dụng; 01 Căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ MMT (thẻ điều trị Methadone) đều mang tên Triệu Ngọc H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone, màu trắng vàng, màn hình cảm ứng, bên trong có 01 sim số thuê bao 0987882931 cũ đã qua sử dụng xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo đề nghị được nhận lại; do đó, cần trả lại cho bị cáo.
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE, màu sơn trắng bạc đen, biển kiểm soát 97B1- 592.35; số máy JF6E1456228; số khung 6309FZ456178 là công cụ, phương tiện phục vụ cho quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc xe mô tô trên có giấy chứng nhận đăng ký xe tên Bùi Mạnh H1, sinh năm 1986, trú tại: Tổ C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; tuy nhiên, vào khoảng năm 2021 anh H1 đã bán chiếc xe mô tô trên cho một người phụ nữ với giá 26.500.000đ, anh H1 không nhớ rõ tên, địa chỉ của người phụ nữ đã mua xe, anh H1 xác nhận không còn sở hữu chiếc xe mô tô trên. Quá trình điều tra, đã xác minh và làm rõ chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE, màu sơn trắng bạc đen, biển kiểm soát 97B1- 592.35 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy tang vật; bà L sở hữu chiếc xe mô tô trên từ tháng 01 năm 2021, không có tranh chấp với ai nên chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của bà L. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội bà L không biết. Do đó, HĐXX xét thấy, cần trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà Nguyễn Thị L là đúng quy định của pháp luật.

[7]. Đối với người đàn ông tên S1 đã bán ma túy cho bị cáo H vào ngày 12/6/2024 tại khu vực cơ sở điều trị Methadone thành phố Bắc Kạn; do bị cáo không biết địa chỉ người này, và cũng không quen biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác minh làm rõ được, nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

[8]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại khu vực đặc biệt khó khăn; bị cáo có đơn xin miễn án phí. Do đó, Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

  1. Tuyên bố bị cáo Triệu Ngọc H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Xử phạt bị cáo Triệu Ngọc H 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/6/2024).
  3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án (Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án).

  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu VC bên trong có 01 (một) mảnh nilon màu trắng đục, 01(một) phong bì niêm phong ban đầu kí hiệu “H”; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu T131 bên trong có 0,735g (không phẩy bảy ba năm gam) ma túy loại heroin và Methamphetamine cùng phong bì ký hiệu GĐ, bao gói cũ do cơ quan giám định hoàn trả; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “H2”; 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “H1”; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “ĐT”.
    • + Trả lại cho bị cáo H: 01 (một) ví màu nâu cũ đã qua sử dụng; 01 Căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ MMT (thẻ điều trị Methadone) đều mang tên Triệu Ngọc H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone, màu trắng vàng, màn hình cảm ứng, bên trong có 01 sim số thuê bao 0987882931 cũ đã qua sử dụng.
    • + Trả lại cho bà Nguyễn Thị L: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE, màu sơn trắng bạc đen, biển kiểm soát 97B1- 592.35; số máy JF6E1456228; số khung 6309FZ456178, xe cũ đã qua sử dụng, không có gương bên phải, hai bên yếm có nhiều vết xước, giá tay sách sau xe có nhiều vết xước; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 046724 mang tên Bùi Mạnh H1 và 01(một) chìa khóa xe.
    • (Số lượng, hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/8/2024 giữa Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bạch Thông).
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Triệu Ngọc H.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Mạnh H1 có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật/.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND huyện Bạch Thông (1);
  • - Viện KSND tỉnh Bắc Kạn (1);
  • - TAND tỉnh Bắc Kạn (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn (1);
  • - Công an huyện Bạch Thông;
  • - Bị cáo (1); NCQLNVLQ;
  • - Thi hành án DS huyện Bạch Thông (1);
  • - Bộ phận THAHS Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

(Đã ký)

Nguyễn Thị Hương Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Triệu Ngọc H bị TAND huyện Bạch Thông xử phạt 22 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger