|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/DS-ST Ngày: 18-7-2024 “ V/v tranh về thừa kế tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Lâm Tới.
- - Ông Ngô Văn Cường.
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 141/2022/TLST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Trần Văn D, sinh năm 1972;
- Địa chỉ: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
- - Ông Trần Minh H, sinh năm 1975;
- Địa chỉ: Tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
- - Bà Trần Thị Ngọc L1, sinh năm 1978.
- Địa chỉ: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
- - Bà Trần Thị Ngọc L2, sinh năm 1980.
- Địa chỉ: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
(Bà L, bà L2 có mặt, những người còn lại vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 15 tháng 6 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà Trần Thị Ngọc L trình bày:
Cha, mẹ bà là ông Trần Văn P (đã chết) mẹ là bà Từ Thị T1 (đã chết) cha mẹ có 06 người con gồm: Trần Văn D, Trần Minh H, Trần Thị Ngọc L1, Trần Thị Ngọc L2, Trần Thị Ngọc L và Trần Văn T.
Lúc cha mẹ còn sống có tạo lập được diện tích đất 1.171,2m², trên phần đất có căn nhà tiền chế, đất do cha, mẹ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; khi cha mẹ chết không để lại di chúc, các anh chị em cùng thỏa thuận để cho ông Trần Văn T đứng ra làm thủ tục sang tên đối với diện tích đất nêu trên để ông T đại diện ký tên chuyển nhượng cho người khác. Sau khi hoàn tất thủ tục sang tên chuyển quyền thì ông T chuyển nhượng được 1.800.000.000 đồng (một tỷ tám trăm triệu đồng) ông T giữ không chia như thỏa thuận. Việc thỏa thuận cho ông T đứng tên rồi sang nhượng chia tiền các anh em không có lập thành văn bản mà chỉ thỏa thuận miệng, sau đó ông T có chia cho bà 100.000.000 đồng nhưng bà không lấy dẫn đến tranh chấp.
Trong đơn khởi kiện ngày 15/6/2022 bà có yêu cầu chia số tiền 1.800.000.000 đồng, chia điều cho 06 anh, chị, em gồm: Ông Trần Minh D1, Trần Minh H, Trần Văn T và Trần Thị Ngọc L1, Trần Thị Ngọc L2, Trần Thị Ngọc L, mỗi người được thừa hưởng 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng, tuy nhiên qua tiềm hiểu các anh chị trên đều đã nhận một số tiền của ông Trần Văn T chia trong số tiền sang nhượng nhà 1.800.000.000 đồng nên không có ý kiến, cũng như từ chối tham gia khi Tòa án triệu tập.
Riêng đối với bà, bà giữ nguyên yêu cầu, yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn T chia cho bà 300.000.000 đồng tiền sang nhượng nhà đất của cha mẹ để lại, Trần Văn T đại diện ký tên sang nhượng và đang giữ số tiền 1.800.000.000 đồng.
Bị đơn ông Trần Văn T vắng mặt tại phiên Tòa nhưng có lời khai, trình bày ý kiến trong quá trình tố tụng như sau:
Cha, mẹ ông là ông Trần Văn P (đã chết) mẹ là bà Từ Thị T1 (đã chết) có 06 người con gồm: Trần Văn D, Trần Minh H, Trần Thị Ngọc L1, Trần Thị Ngọc L2, Trần Thị Ngọc L và Trần Văn T.
Lúc sinh thời cha mẹ có tạo lập được diện tích đất 1.171,2m² tại khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cha ông Trần Văn P đứng tên. Cha chết năm 2018, mẹ chết năm 1991- 1992 không để lại di chúc, các anh chị em cùng thỏa thuận để cho ông được làm thủ tục nhận thừa kế sau đó đại diện ký tên chuyển nhượng nhà và đất nói trên cho người khác. Sau khi hoàn tất thủ tục sang tên chuyển nhượng ông nhận 1.800.000.000 đồng, ông có chia cho ông D 50.000.000 đồng, bà L1 50.000.000 đồng, ông H 100.000.000 đồng, bà L2 130.000.000 đồng, riêng đối với bà Trần Thị Ngọc L thì ông T có cho 100.000.000 đồng, nhưng bà L không đồng ý nhận và trả lại.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà L thì ông T không chấp nhận; bởi vì: Khi chuyển nhượng đất, ông có chia cho bà L 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) nhưng bà L không nhận mà trả lại và hiện nay số tiền chuyển nhượng đất ông đã sử dụng hết, nên không còn tiền để chia.
Trong quá trình tố tụng: Tòa án có tiến hành lấy lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trần Văn D, Trần Minh H, Trần Thị Ngọc L1 cho rằng sau khi cha mẹ chết có lại tài sản là bất động sản gồm nhà và diện tích 1.171,2m² đất, đất do cha là ông Trần Văn P đứng tên giấy chứng nhận, các anh em thống nhất là làm thủ tục thừa kế sang tên từ Trần Văn P sang Trần Văn T đứng tên và T đại diện ký tên trong hợp đồng sang nhượng nhà và đất số tiền 1.800.000.000 đồng. Sau đó chia cho các anh, chị em như sau: Chia ông D 50.000.000 đồng, bà L1 50.000.000 đồng, ông H 100.000.000 đồng. Nay không tranh chấp chia số tiền nêu trên và xin xét xử vắng mặt.
Đối với bà Trần Thị Ngọc L2: Bà L2 thống nhất với nội dung trình bày của nguyên đơn và bị đơn, thừa nhận có nhận số tiền 130.000.000 đồng; trong đó 100.000.000 đồng là tiền hoa hồng giới thiệu môi giới chuyển nhượng đất và 30.000.000 đồng từ ông T đưa. Có ý kiến yêu cầu ông T chia cho bà L số tiền 300.000.000 đồng tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của cha mẹ sau khi chết để lại. Ngoài ra bà L2 không có tranh chấp hay yêu cầu khác đối với ông T.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án.
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
- - Thẩm phán: Được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa sơ thẩm đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử; thư ký ghi biên bản phiên tòa đúng chức năng nhiệm vụ.
- - Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 609, Điều 612, Điều 616, Điều 617, Điều 649, Điều 657 và Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015 xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc L. Xác định số tiền 1.800.000.000 đồng là di sản do cụ Trần Văn P và Từ Thị T2 để lại do ông Trần Văn T đang quản lý. Chia thừa kế theo pháp luật bà L được hưởng giá trị 01 kỷ phần là 300.000.000 đồng. Buộc ông Trần Văn T giao số tiền 300.000.000 đồng cho bà L.
Tại phiên Tòa các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Trần Thị Ngọc L và ông Trần Văn T là tranh chấp thừa kế tài sản; anh T có nơi cư trú tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
- [2] Hàng thừa kế: Ông Trần Văn P và bà Từ Thị T1 có 06 người con gồm: Trần Thị Ngọc L, Trần Văn T, Trần Văn D, Trần Thị H1, Trần Thị Ngọc L1 và Trần Thị Ngọc L2.
- [3] Thời điểm mở thừa kế: Bà Từ Thị T1 chết năm 1992, ông Trần Văn P chết năm 2018. Do đó thời điểm mở thừa kế được tính từ năm 2018.
- [4] Về thời hiệu khởi kiện: Ông Trần Văn P và bà Từ Thị T1 chết có để lại tài sản là bất động sản gồm nhà và đất không để lại di chúc. Đến năm 2022 phát sinh tranh chấp. Căn cứ vào Điều 611 và Điều 623 của Bộ luật Dân sự thì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế vẫn còn.
- [5] Về nội dung:
Ông Trần Văn P và bà Từ Thị T1 chết có để lại tài sản là bất động sản gồm nhà và diện tích 1.171,2m² đất, đất tọa lạc khóm X, phường T, thị xã T, An Giang không để lại di chúc. Năm 2021 các anh chị em bao gồm Trần Thị Ngọc L, Trần Văn T, Trần Văn D, Trần Thị H1, Trần Thị Ngọc L1 và Trần Thị Ngọc L2 thống nhất làm thủ tục chuyển đổi tên từ ông Trần Văn P sang cho ông Trần Văn T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi làm thủ tục sang nhượng nhà và đất nêu trên với số tiền 1.800.000.000 đồng. Sau khi ông Trần Văn T nhận số tiền nêu trên có chia lại cho các anh chị như sau: Ông D 50.000.000 đồng, bà L1 50.000.000 đồng, ông H1 100.000.000 đồng, bà L2 130.000.000 đồng, riêng đối với bà L ông T đưa 100.000.000 đồng nhưng bà L không đồng ý, dẫn đến tranh chấp, bà L yêu cầu chia điều số tiền 1.800.000.000 đồng cho 06 anh chị em, mỗi người nhận 300.000.000 đồng.
Xét yêu cầu của bà L: Bà L yêu cầu Tòa án buộc ông T chia điều số tiền 1.800.000.000 đồng cho 06 người bao gồm ông D, ông H1, bà L1, bà L2, bà L và ông T mỗi người trong hàng thừa kế 01 kỷ phần giá trị tương đương 300.000.000 đồng nhận thấy. Nguồn gốc số tiền 1.800.000.000 đồng là tiền sang nhượng nhà và đất do ông Trần Văn P, bà Từ Thị T1 để lại, đất tọa lạc tại khóm X, phường T, thị xã T, An Giang, trong quá trình tố tụng các đương sự trong vụ án đều xác nhận sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất nêu trên số tiền 1.800.000.000 đồng do ông Trần Văn T quản lý. Việc bà L yêu cầu ông T chia 300.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận. Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông D nhận 50.000.000 đồng, bà L1 nhận 50.000.000 đồng, ông H1 nhận 100.000.000 đồng, bà L2 nhận 130.000.000 đồng từ ông T, tuy không đủ như giá trị phân chia nhưng các đương sự không có yêu cầu độc lập trong vụ án nên không xem xét giải quyết. Trường hợp các đương sự có yêu cầu, tranh chấp giành quyền khởi kiện trong vụ án khác.
- [8] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp Luật Tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
- [9] Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị Ngọc L chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 609, Điều 612, Điều 616, Điều 617, Điều 649, Điều 657 và Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ngọc L đối với ông Trần Văn T.
Buộc ông Trần Văn T giao số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) cho bà Trần Thị Ngọc L.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị Ngọc L chịu án phí 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0008691 ngày 19/10/2022 của Chi Cục thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên. Bà L còn phải tiếp tục nộp thêm 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Khánh |
Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 32/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chia thừa kế
