Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐỒN

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 17 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Hữu Tình

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Thanh Dương và ông Nguyễn Duy Phú

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 05/7/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân H, sinh ngày 30/7/1994 tại: thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: tổ dân phố M, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T và bà Đinh Thị P; có vợ là Nguyễn Thị Phương N, sinh năm 1995; có 02 con (Con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: không. Quá trình nhân thân: Ngày 14/3/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 09/2012/HSST ngày 14/3/2012; Ngày 02/11/2017, bị Công an thị xã B, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; Ngày 02/6/2020, bị Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/5/2024 đến ngày 17/5/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Theo Lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị D, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 14/5/2024, Nguyễn Xuân H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73K1 - 266.88 đi từ nhà của mình đến khu vực đường H, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình thì gặp một người đàn ông không rõ lai lịch rồi dò hỏi và mua được 11 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến với giá 700.000 đồng về sử dụng. Sau đó, H cầm số ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi đi đến đoạn đường Q, tại vị trí giao nhau với Quốc lộ A thuộc tổ dân phố M, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, thì H bị lực lượng Công an thị xã B phát hiện, kiểm tra và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ được tại hiện trường khi bắt quả tang gồm: 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa 11 viên nén hình tròn, dạng thuốc tân dược màu hồng, được thu giữ trong lòng bàn tay trái của H; thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, màu xanh bạc, biển kiểm soát 73K1 - 266.88, xe cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, đã xác minh được xe mô tô nói trên thuộc sở hữu của chị Trần Thị D, là tài sản chung của gia đình. Việc bị cáo H lấy xe đi để thực hiện hành vi phạm tội chị D hoàn toàn không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã xử lý trả lại xe mô tô nói trên cho chị Trần Thị D.

Tại Kết luận giám định số 530/KL - KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,021g. Xác định M nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ về việc “Quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất".

Tại bản Cáo trạng số: 29/CT-VKSBĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H từ 13 đến 15 tháng tù.

Về vật chứng của vụ án: Số ma túy thu giữ của Nguyễn Xuân H, sau khi đã trích gửi đi giám định thì số còn lại là 0,734g chất ma túy Methamphetamine. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy 0,734g chất ma túy Methamphetamine sau giám định.

Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và nhất trí với tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố đối với bị cáo nên không tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện: Do bị cáo nghiện ma túy từ trước nên mặc dù biết các chất ma túy đều bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm tàng trữ, nhưng bị cáo vẫn tìm mua và tàng trữ 11 viên nén dạng thuốc tân dược màu hồng, được xác định là chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 1,021g với mục đích để sử dụng. Methamphetamine là chất nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2012/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ về việc “Quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”. Xét thấy, diễn biến hành vi phạm tội bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và quá trình nhân thân thấy rằng:

Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Bị cáo là người đã trưởng thành nên có đầy đủ khả năng để nhận thức được các hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép các chất ma túy là rất nguy hiểm cho xã hội, bởi các chất ma túy nói chung và chất ma túy Methamphetamine mà bị cáo tàng trữ nói riêng là rất độc hại thuộc diện Nhà nước độc quyền quản lý; người sử dụng chất ma túy này sẽ lâm vào tình trạng lệ thuộc vào ma túy, gây ảo giác thần kinh có thể dẫn đến thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội; sử dụng loại ma túy này còn là nguyên nhân làm phát sinh các căn bệnh xã hội và các tội phạm khác.

Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu. Bị cáo đã từng bị Công an thị xã B, tỉnh Quảng Bình và Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; bị cáo còn đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. Song, bị cáo không lấy đó làm bài học, không tu dưỡng đạo đức, rút kinh nghiệm cho bản thân để sống tuân thủ pháp luật mà ngược lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong vụ án này. Điều này cho thấy bị cáo là đối tượng có ý thức coi thường pháp luật, sẵn sàng phạm tội khi có điều kiện. Vì vậy, cần phải áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự để xử phạt nghiêm nhằm mục đích răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật đối với bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung đối với các đối tượng khác.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được việc làm sai trái của mình để có hướng khắc phục, sửa chữa lỗi lầm. Quá trình sinh sống tại địa phương, vào tháng 6 năm 2023, bị cáo đã đã có thành tích cứu một cháu bé bị đuối nước, được gia đình cháu bé và chính quyền địa phương xác nhận, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Liên quan trong vụ án có đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo H vào ngày 14/5/2024, tuy nhiên quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B không xác định được lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B sẽ tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý sau.

[6] Về hình phạt áp dụng:

Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo tiến bộ, sớm trở lại là công dân lương thiện, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[7] Về xử lý vật chứng:

Xét thấy, việc thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là chị Trần Thị D 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, màu xanh bạc, biển kiểm soát 73K1 - 266.88 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã B là đúng quy định pháp luật.

Vật chứng còn lại của vụ án là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,734g chất ma túy tổng hợp Methamphetamine sau giám định.

[8] Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Xuân H phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh:

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 14/5/2024.

Tuyên bố tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Xuân H 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

3. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư của Phòng KTHS Công an tỉnh Q, số: 530/KL-KTHS, bên ngoài ghi “Mẫu ký hiệu A”, bên trong chứa 0,734g (Không phẩy bảy trăm ba mươi tư gam ) chất ma túy Methamphetamine sau giám định, kèm theo vỏ bao gói, đã được niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu của Phòng K Công an tỉnh Q. (Vật chứng có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã B và Chi cục Thi hành án thị xã Ba Đồn vào ngày 02/7/2024).

4. Về án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Xuân H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo:

Án xử sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Đối với người có mặt) hoặc kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật (Đối với người vắng mặt)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Công an thị xã Ba Đồn;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Hữu Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân Hoà phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger