Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ - ST

Ngày 17 - 5 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thanh Ngọc

Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Hợi và bà Hoàng Thảo Yến.

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Kim Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 124/2023/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp việc nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXX-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Chị Lê Thu H1, sinh năm 1995; Nơi thường trú: Khu V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Thái H2, sinh năm 1994; Nơi thường trú: Khu V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại Tòa án, chị Lê Thu H1 trình bày: Chị và anh Nguyễn Thái H2 được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 23/11/2021 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận không có mâu thuẫn gì. Nhưng đến khoảng tháng 5/2022, vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh H2 thường xuyên chơi bời dẫn đến nợ tín dụng và vay nợ họ hàng mà không cho chị biết khiến chị rất áp lực, kinh tế gia đình do một mình chị gánh vác. Vợ chồng ly thân từ tháng 4/2023 đến nay. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Thái H2.

Về con chung: Chị và anh H2 có 01 con chung là Nguyễn Nhật L, sinh ngày 08/03/2023. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai của anh Nguyễn Thái H2 trình bày: Anh và chị H1 được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 23/11/2021 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chung sống anh xác nhận thời điểm vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là từ tháng 5/2022 và nguyên nhân mâu thuẫn là do anh làm ăn thất bại, sau đó lại nghe theo người khác làm việc sa đà vào việc chơi mà không chịu làm để khắc phục lại kinh tế. Anh biết việc anh làm là sai nhưng anh đã thay đổi không còn tham gia các cuộc cá cược nữa và xác định vợ chồng vẫn còn tình cảm, mong muốn vợ chồng hàn gắn để con cái lớn lên có đầy đủ tình yêu thương của bố mẹ nên anh không đồng ý ly hôn chị H1.

Về con chung: Xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Nhật L, sinh ngày 08/03/2023. Trường hợp buộc phải ly hôn, anh đồng ý để chị H1 nuôi dưỡng cháu L. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có mặt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị và anh H2 từ khi lấy nhau đã có mâu thuẫn về kinh tế. Sau khi kết hôn chị biết anh H2 nợ nần, chị tha thứ, bỏ qua và đồng ý lấy một phần vàng mừng cưới của vợ chồng để thanh toán nợ cho anh H2 nhưng dần dần chị không thấy toàn bộ số vàng vợ chồng được mừng cưới đâu. Đến tháng 6/2022 mâu thuẫn trở nên trầm trọng khi anh H2 vay tiền mẹ đẻ cũng như họ hàng bên nhà chị mà không cho chị biết nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ. Sau đó hai bên gia đình đã hòa giải để vợ chồng quay về đoàn tụ nhưng kể từ khi chị quay về sống chung với anh Hoàng vợ chồng chỉ phát sinh quan hệ vợ chồng một lần duy nhất, sau đó chị thấy anh H2 không hề thay đổi mà vẫn tiếp tục vay tiền bên gia đình chị, khi bố chị ngã nhập viện anh H2 cũng gọi điện chỉ để vay tiền mà không hề hỏi thăm sức khỏe của bố chị. Chị đã cho anh H2 nhiều cơ hội để thay đổi bản thân nhưng quá trình giải quyết ly hôn tại Tòa án anh H2 vẫn tham gia trò chơi cá cược, vẫn mượn tiền chị nhưng lại không trả. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục cuộc sống chung vợ chồng nên giữ nguyên đề nghị xin ly hôn anh H2. Về con chung: Ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Nhật L, sinh ngày 08/03/2023 và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung do anh H2 đang khó khăn về kinh tế. Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn có mặt, xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn là do phía anh, anh đã làm sai nhiều và biết là chị H1 đã cho nhiều thời gian thay đổi nhưng anh cho rằng trong một thời gian ngắn anh không không thể khắc phục được mà cần phải có thời gian. Anh xác nhận còn tình cảm vợ chồng nên không đồng ý ly hôn chị H1. Về con chung: Trường hợp buộc ly hôn với chị H1, anh đồng ý giao con chung là cháu Nguyễn Nhật L, sinh ngày 08/03/2023 cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện VKSND thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo nguyên tắc xét xử. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thu H1 được ly hôn anh Nguyễn Thái H2.

Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Nhật L, sinh ngày 08/03/2023 cho chị Lê Thu H1 trực tiếp nuôi dưỡng.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, công nợ không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị H1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Lê Thu H1 yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Thái H2 và giải quyết nuôi con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật giải quyết trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về thẩm quyền: Bị đơn anh Nguyễn Thái H2 hiện đang cư trú tại phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vì vậy, căn cứ Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về nội dung:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thu H1 và anh Nguyễn Thái H2 kết hôn ngày 23/11/2021, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, nên đây là hôn nhân hợp pháp theo Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H1 làm đơn xin ly hôn, anh H2 không đồng ý ly hôn.
  • Hội đồng xét xử xét thấy chị H1, anh H2 đều xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H2 thường xuyên chơi bời dẫn đến nợ nần. Chị H1 đã cho anh H2 thời gian để sửa chữa bản thân nhưng anh H2 vẫn không thay đổi, anh H2 thì mong muốn được cho thêm thời gian. Vợ chồng vẫn ly thân từ tháng 4/2023 đến nay. Quá trình giải quyết, Tòa án cũng đã tạo điều kiện để vợ chồng hòa giải. Gia đình hai bên cũng hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng từ tháng 01/2024 khi vợ chồng về sống chung thì chị H1 nhận thấy anh H2 không thay đổi, vợ chồng vẫn ly thân. Như vậy, hôn nhân giữa chị H1 và anh H2 đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị H1 về việc ly hôn anh H2 theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
  • - Về con chung: Chị Lê Thu H1 và anh Nguyễn Thái H2 có 01 con chung là Nguyễn Nhật L, sinh ngày 08/03/2023. Ly hôn chị H1 đề nghị được nuôi con chung, anh H2 đồng ý giao con chung cho chị H1 nuôi dưỡng và không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Xét thấy: Cháu L hiện nay chưa tròn 36 tháng tuổi, chị H1 và anh H2 đều thống nhất giao con chung cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Vậy, giao con chung cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Ddeiefu 81 Luật hôn nhân và gia đình.
  • - Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: Chị H1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 204, 220, 227, 228, 235, 264, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thu H1 được ly hôn anh Nguyễn Thái H2.
  2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Nhật L, sinh ngày 08/03/2023 cho chị Lê Thu H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  4. Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Lê Thu H1 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. (Xác nhận chị Lê Thu H1 đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu ký hiệu: BLTU/23, số 0000561 ngày 25/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh).

Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TP Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Ninh;
  • - UBND phường Hòa Long, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Bùi Quang Hợi

Hoàng Thảo Yến

Đỗ Thanh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ - ST ngày 17/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger