TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/DS-ST
Ngày 17 tháng 5 năm 2024
V/v: “Kiện đòi tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Kiên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Vượng;
- Bà Hoàng Thị Hồng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 13/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2024, về việc “Kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1978; địa chỉ: Số F, tổ F, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1977; địa chỉ: Số nhà E, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Bích H xác định:
Do có mối quan hệ quen biết, nên vào tháng 6 năm 2022, bà và ông Lê Văn L có thỏa thuận về việc cùng nhau đầu tư làm tuyến xe buýt 203 đi từ bến xe B đi G và ngược lại. Thỏa thuận: Bà góp vốn đầu tư 50.000.000 đồng, mỗi tháng ông Lê Văn L sẽ trả cho bà lợi nhuận là 2.600.000 đồng vào 03 ngày trong tháng là ngày 10, 20 và 26 hàng tháng. Ngày 07/6/2022, ông Lê Văn L mua chiếc xe buýt mang biển kiểm soát 98F-000.93. Ngày 09/6/2022, bà chuyển tiền cho ông Lê Văn L qua tài khoản Ngân hàng V số tài khoản mang tên ông Lê Văn L là 1013679664 số tiền 50.000.000 đồng với nội dung “chuyen tien gop dau tu xe 98F-000.93”. Tuy nhiên, từ khi góp vốn cho đến nay, bà không nhận được khoản tiền lợi nhuận theo thỏa thuận. Nay, bà Nguyễn Thị Bích H đề nghị Tòa án buộc ông Lê Văn L phải trả số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Bích H xác định: Ngày 29/3/2024, ông Lê Văn L chuyển khoản trả cho bà 3.000.000 đồng. Ngày 30/4/2024, ông Lê Văn L chuyển khoản trả cho bà 3.000.000 đồng. Tổng cộng là 6.000.000 đồng. Nay bà đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Lê Văn L phải trả cho bà số tiền 44.000.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu đồng).
Đối với bị đơn là ông Lê Văn L, trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã niêm yết các văn bản tố tụng, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải cũng như quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà theo đúng quy định của pháp luật, nhưng ông Lê Văn L vẫn vắng mặt, không có lý do và không có quan điểm thể hiện việc giải quyết vụ án.
Phần tranh luận: Không.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến, về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 244, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích H đối với ông Lê Văn L.
- - Buộc ông Lê Văn L phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Bích H số tiền 44.000.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu đồng).
- - Ông Lê Văn L phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Bích H số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án thụ lý vụ án với quan hệ tranh chấp là “Kiện đòi tài sản” theo quy định tại Điều 26; Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự:
Ông Lê Văn L đã được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với ông Lê Văn L.
[3] Xét thời hiệu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện:
3.1. Về thời hiệu khởi kiện: Yêu cầu khởi kiện về đòi tài sản, nên không áp dụng thời hiệu theo khoản 2 Điều 155 của Bộ luật dân sự.
3.2. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích H, Hội đồng xét xử đánh giá như sau: Căn cứ vào bản sao kê tài khoản của số tài khoản 0731000554914 mang tên bà Nguyễn Thị Bích H tại Ngân hàng V, thể hiện: Ngày 09/6/2022, bà Nguyễn Thị Bích H chuyển tiền cho ông Lê Văn L qua tài khoản Ngân hàng V số tài khoản mang tên ông Lê Văn L là 1013679664 số tiền 50.000.000 đồng với nội dung “chuyen tien gop dau tu xe 98F-000.93”.
Như vậy, có đủ căn cứ khẳng định ông Lê Văn L đã nhận số tiền 50.000.000 đồng bà Nguyễn Thị Bích H chuyển như nêu trên. Ông Lê Văn L không có chứng cứ tài liệu nào chứng minh cho việc đã thực hiện nghĩa vụ trả lại tài sản cho bà Nguyễn Thị Bích H. Nay, bà Nguyễn Thị Bích H xác định ông Lê Văn L đã trả 6.000.000 đồng và đề nghị Tòa án buộc ông Lê Văn L phải trả số tiền 44.000.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu đồng) là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 166, Điều 274, Điều 275 của Bộ luật dân sự.
[4] Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích H được chấp nhận, nên ông Lê Văn L phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Bích H tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 1 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 274 và Điều 275 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích H đối với ông Lê Văn L.
- Buộc ông Lê Văn L phải trả cho bà Nguyễn Thị Bích H số tiền là: 44.000.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu đồng).
- Về án phí:
- Ông Lê Văn L phải nộp 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng).
- Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Bích H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001561 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trần Kiên |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Trần Kiên
Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về kiện đòi tài sản
- Số bản án: 32/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ vay tài sản Hường - Lập
