Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày: 16-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành

Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mến

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thạch MuNi

Ông Dương Thanh Tuấn

Bà Diệp Huyền Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thanh Hoàng, ông Phan Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

- Hỗ trợ phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần: Ông Huỳnh Quốc H

– Cán bộ trại tam giam.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần tại Trại giam Công an tỉnh T, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/HSST, ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh P

sinh ngày 06/6/1981, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nơi ở hiện tại: Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1 (chết) và bà Trần Thị L, (chết); có vợ là bị hại trong vụ án, đã ly hôn và 01 người con; tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/02/2024 cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh P: Luật sư Trương Hoàng P2 - Văn phòng luật sư Trương Hoàng P2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T bào chữa theo chỉ định (có mặt)

- Bị hại: Bà Nguyễn Việt P3, sinh ngày 13/9/1981 (chết)

Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

1. Bà Lê Thị H1, sinh năm: 1948 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

2. Anh Nguyễn Hoàng P4, sinh ngày 26/6/2007 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm: 1983. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (có mặt)

- Người làm chứng

1. Chị Trần Thị Lệ T, sinh năm: 1981. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Anh Cao Ru Y, sinh năm 1983. Nơi cư trú: ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Nguyễn Minh P và bị hại Nguyễn Việt P3, sinh ngày 13/9/1981, nơi cư trú ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh trước đây là vợ chồng, đến ngày 29/12/2023 đã ly hôn với nhau. Sau khi ly hôn, hàng ngày bị cáo P sinh sống tại nhà ở ấp T, xã T, huyện C làm nghề cắt tóc và phụ làm thịt bò cho ông Đoàn Văn N, ở cùng ấp, còn P3 thuê nhà của bà Lê Thị V ở cùng ấp ở riêng cùng với con chung là Nguyễn Hoàng P4 và mở tiệm may quần, áo. Do còn tình cảm với P3 nên P nhiều lần điện thoại và đến tiệm của P3 gặp P3 nói chuyện với P3 năn nỉ muốn P3 quay lại chung sống với P nhưng P3 chỉ hứa không thực hiện.

Đến khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 23/01/2024, P từ nhà gọi điện thoại cho P3 nhờ P3 mua thuốc uống (thuốc cảm sốt) đem vô nhà cho P. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, P3 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Wave anpha màu trắng đi từ tiệm may đến nhà P và đậu xe ở cặp lộ phía trước cửa nhà, rồi đi bộ vào bên trong quầy hớt tóc ở nhà dưới, lúc này P đang nằm võng ở tại quầy hớt tóc, ở nhà dưới, nên P3 để thuốc ở trên bàn rồi đi lên nhà trên. P hỏi P3 đi đâu vậy, thì P3 trả lời là lấy cái áo và đi tiếp vào phía trong phòng ngủ. P đi theo sau P3 vào trong phòng ngủ, đứng đối diện nói chuyện với P3, kêu P3 quay lại chung sống với P để

chăm sóc cho con trai là Nguyễn Hoàng P4 nhưng P3 kiên quyết không đồng ý nên P tức giận nảy sinh ý định giết chết P3 rồi tự xác. Tiếp đó, P đã dùng hai tay đẩy mạnh vào vùng ngực của P3 làm P3 té ngã ngữa về phía sau, đầu P3 có đội mũ bảo hiểm va đập vào tường, nón bảo hiểm rớt xuống nền gạch còn P3 bị té ngã nằm ngữa người trên niệm ở trên nền gạch, ngay lúc đó P liền lấy cây dao dài 26,5cm, cán bằng nhựa màu đỏ dài 11,3cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15,2cm, có một cạnh sắc, bề rộng nhất 2,5cm mũi dao nhọn ở trên cái bàn, gần nơi P3 té rồi cầm dao trên tay phải, mũi dao hướng xuống đất, thấy P3 vẫn còn nằm ngữa nên P ngồi xỏm người xuống cạnh P3 phía bên phải và dùng tay trái bóp cổ P3, đè xuống nệm. Khi bị bóp cổ, P3 vùng vẩy, dùng hai tay nắm lấy bàn tay trái của P cào cấu để chóng cự lại. Lúc này, P cầm dao trên tay phải đâm liên tục nhiều nhát từ trên xuống trúng vào vùng ngực, bụng của P3, khi bị đâm P3 cố giẩy giụa nghiên người sang trái, P cầm dao đâm tiếp thêm 01 (một) nhát trúng vào vùng lưng của P3, tổng cộng P đâm 05 (năm) nhát, cho đến khi thấy P3 nằm bất động tại chổ. Do biết P3 đã chết nên P dừng lại, bỏ con dao xuống niệm và ôm P3 một lúc, sau đó P đi ra trước nhà dẫn xe của P3 đang đậu vào bên trong quầy hớt tóc ở nhà dưới. P kéo cửa nhà khoá cửa lại, rồi đi trở vào trong phòng ngủ, lấy cây dao đã đâm P3 cầm trên tay phải cắt áo ngoài, áo ngực (phía bên trái) của P3 đang mặc và cởi áo ra, cuộn áo lại phía dưới vai và lưng phải, đồng thời bị cáo dùng hai tay kéo quần của P3 ra khỏi hai chân, lấy cái mền đắp lại cho P3 định để thay đồ mới cho P3.

Sau đó, P bỏ cây dao xuống niệm và đi lại lấy chai thuốc trừ sâu nhãn hiệu KaBaRi và ly thủy tinh đường kính 8,2cm đang để ở giữa chân bàn và tủ quần áo trong phòng ngủ, Phong cầm trên tay phải và lấy hai sợi dây điện, một sợi màu xanh dài 79 cm, đường kính rộng 0,5cm, một sợi màu hồng dài 1m, đường kính rộng 0,5cm, ở dưới cái bàn tại phòng ngủ cầm trên tay trái, rồi P đi lên niệm qua phía gần bức tường để chai thuốc, ly thủy tinh, sợi dây điện xuống ở cạnh nhau. Sau đó, P cởi hết quần, áo của mình đang mặc ra khỏi người, rồi lấy chai thuốc trừ sâu mở nắp chai ra rót thuốc trừ sâu vào ly thủy tinh và uống hết 01 ly, rồi để cái ly xuống niệm.

Sau khi uống thuốc xong, P dùng sợi dây điện màu xanh cột dính chân trái của mình vào chân phải của P3 rồi P chồm người sang bên tay trái P3, lấy cây dao cầm trên tay phải tự đâm nhiều nhát vào vùng bụng của mình làm chảy rất nhiều máu, rồi P để cây dao xuống niệm cạnh tường và nằm xuống niệm, để đầu của P3 nằm lên tay trái của P. Tiếp đó, P dùng tay phải lấy sợi dây điện màu hồng buộc tay trái của P vào tay trái của P3 và nằm đến khoảng 01 giờ sau. Do P nghe điện thoại của P3 ở trên niệm reo nhiều lần, P quay người sang mở dây buộc ở tay trái và ở chân ra, P cầm chai thuốc trừ sâu và nhặt điện thoại của P3 đi ra nhà sau rồi bỏ điện thoại của P3 vào thao nước, ở khu vực bếp, đồng thời mở van nước

cho nước chảy vào chai thuốc trừ sâu sau đó bị cáo P tiếp tục cầm chai thuốc đi trở vào phòng ngủ, đến vị trí P đã nằm trước đó ngồi xuống, tiếp tục uống hết thuốc sâu trong chai rồi bỏ chai thuốc xuống cạnh tường. Tiếp đó P dùng dây điện buộc tay trái của mình vào tay trái của P3 và lấy cây dao đâm tiếp vào vùng cổ của mình một nhát rồi bỏ dao xuống nền gạch. Một lúc sau do P bị nôn ói, thấy cơ thể nóng bức khó chịu và khát nước nên P mở dây buộc ở tay trái ra, lấy ly thủy tinh đi xuống nhà sau để uống nước, sau đó P quay trở lại phòng ngủ nằm ở dưới nền gạch phía bên tay trái của P3 rồi bất tỉnh.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày em Nguyễn Hoàng P4 đi học về đến tiệm không thấy P3 nên P4 đi đến nhà P tìm P3, thấy tất cả cửa nhà đã bị khóa từ bên trong, em P4 kêu nhiều lần nhưng không ai mở cửa, thấy vậy chị Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 19/10/1983, ở gần nhà phụ kêu nhiều lần nhưng không ai mở cửa nên P4 đi vòng ra nhà sau dùng cây xà ben cạy cửa nhà sau, cho cửa hé ra khoảng trống nhìn vào trong nhà không thấy gì nhưng ngửi có mùi thuốc sâu nên P4 cho chị H2 hay, sau đó chị H2 kêu một số người ở cùng ấp đến phụ giúp cạy cửa và kéo cửa nhà sau hé mở ra cho P4 chui vào bên trong nhà, khi P4 vào phòng ngủ phát hiện P3 đã chết, nằm bất động trên nệm, tay trái có buộc sợi dây điện, còn P nằm dưới nền gạch trong phòng bên cạnh P3, còn cử động, trên người P có nhiều vết thương, đồng thời thấy có con dao có dính vết máu ở bên cạnh P nên em P4 la lớn lên cho mọi người ở bên ngoài biết và mở khóa cửa nhà trước cho mọi người đi vào phụ giúp, để đưa đưa P đi cấp cứu và trình báo sự việc cho cơ quan công an. Sau đó, P4 lấy cây dao đem xuống để trên bàn ở khu vực nhà bếp và phát hiện được chiếc điện thoại của P3 trong thao nước nên em P4 lấy đem vào trong phòng cất. Đến ngày 06/02/2024, P được xuất viện, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh T thì P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 47/KLGĐTT ngày 05/3/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh T kết luận:

1. Các kết quả chính:

Trên cơ thể bị hại P3 có 05 vết thủng da cơ vùng ngực, bụng và lưng; thủng mặt trước thùy phổi phải, bờ dưới thùy giữa và bờ trên thùy dưới phổi phải, thủng mặt bên phải quai động mạch chủ; Kết quả giám định độc chất: không tìm thấy độc chất trong mẫu dạ dày và máu.

2. Kết luận:

- Qua giám định tử thi Nguyễn Việt P3 căn cứ vào tổn thương trên đại thể và độc chất kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Việt P3 là do thủng phổi và quai động mạch chủ gây mất máu cấp.

Tại Bản kết luận số 65/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận như sau:

+ Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Việt P3 (Ký hiệu B) là nhóm máu O;

+ Mẫu máu của Nguyễn Minh P (Ký hiệu C) là nhóm máu A.

+ Mẫu máu thu tại hiện trường (Ký hiệu A) gồm:

M1 thu tại khu vực ký hiệu 3 trong biên bản khám nghiệm hiện trường là máu người, cùng nhóm máu A với Nguyễn Minh P.

M2 thu trên sàn nhà bên trong phòng ngủ 1 là máu người, cùng nhóm máu O với nạn nhân Nguyễn Việt P3 .

Tại Kết luận giám định số 1377/ KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh – Bộ C kết luận: Không phát hiện tinh trùng người trong mẫu dịch âm đạo ghi thu của nạn nhân Nguyễn Việt P3.

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

Quá trình điều tra, khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã thu giữ tại hiện trường các vật chứng gồm:

  • - 01 (một) ly thuỷ tinh, đường kính miệng ly 8,2cm, đường kính đáy ly 6,5cm, chiều cao 8,4cm.
  • - 01 (một) con dao dạng dao Thái lan dài 26,5cm, cán dao bằng nhựa màu đỏ dài 11,3cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15,2cm, mũi dao nhọn, một cạnh sắc, bề rộng nhất 2,5cm.
  • - 01 (một) áo ngực nữ màu đen, áo bị đứt quay bên trái.
  • - 01 (một) sợi dây nhựa màu đen dài 111cm, rộng 0,4cm, lõi bằng kim loại, hai đầu dây có vòng thắt và nút thắt cố định.
  • - 01 (một) mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai màu trắng, dính nhiều chất màu đỏ rãi rác.
  • - 01 (một) cái áo kiểu cổ tròn màu vàng, tay xác nách, phần thân áo bên trái có đường cắt từ vạt áo đến cổ, áo có dính nhiều chất màu đỏ và bị thủng 04 lổ.
  • - 01 (một) quần dài nữ màu đen bằng vãi thun.
  • - 01 (một) quần lót nữ màu hồng.
  • - 01 (một) cái quần dài nam bằng vải màu xám.
  • - 01 (một) cái quần ngắn (quần đùi) bằng vải thun màu nâu, mỗi bên ống quần có 03 sọc màu vàng.
  • - 01 (một) quần lót nam màu Tím.
  • - 01 (một) chai nhựa màu trắng cao 17cm, đường kính thân chai 7,5cm, đường kính miệng chai 4,0cm trên thân chai có nhãn dán “Thuốc trừ sâ u BAKARI” và một nắp chai màu đỏ.
  • - 01 (một) sợi dây điện màu hồng dài 1m, đường kính 0,5cm, vỏ ngoài bằng nhựa màu hồng, bên trong lõi bằng kim loại.
  • - 01 (một) sợi dây điện màu xanh dài 79cm, đường kính 0,5cm, vỏ ngoài bằng nhựa màu xanh, bên trong lõi bằng kim loại.
  • - 01 (một) miếng gạc y tế có chứa máu của Nguyễn Minh P.
  • - 01 (một) miếng gạc y tế có chứa máu của Nguyễn Việt P3.
  • - 01 (một) miếng gạc y tế thu mẫu máu M1 tại khu vực ký hiệu 3 trong biên bản khám nghiệm hiện trường.
  • - 01 (một) miếng gạc y tế thu mẫu máu M2 trên sàn nhà bên trong phòng ngủ 1,

Ngoài ra, còn thu giữ 01 (một) cái điện thoại loại cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A11, màu xanh nước biển bên trong có gắn thẻ sim số 0345.252.996, điện thoại cũ đã qua sử dụng do em Nguyễn Hoàng P4 giao nộp ngày 23/01/2024.

Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSTV-P1 ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Nguyễn Minh P về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Minh P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, thừa nhận Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh mô tả và truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng với hành vi của bị cáo đã thực hiện đối với bị hại Nguyễn Việt P3, bị cáo không khiếu nại về nội dung Bản cáo trạng và tại phiên tòa bị cáo cũng không kêu oan về hành vi của mình. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo và những người tham gia tố tụng không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới tại phiên tòa.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại bà Lê Thị H1, yêu cầu bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho bà theo quy định của pháp luật, đối với tiền mai táng phí bà không yêu cầu bị cáo bồi thường. Anh Nguyễn Hoàng P4 là con của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi phân tích các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa hôm nay. Vị Kiểm sát viên quyết định giữ nguyên nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Nguyễn Minh P về tội “ Giết người”. Vị kiểm kiểm sát cũng đã phân tích các tình tiết giảm nhẹ, và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P mức hình phạt từ 18 năm đến 20 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt bị cáo ngày 06/02/2024.

Về trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị H1, buộc bị cáo phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho bà Lê Thị H1 bằng 100 tháng lương cơ sở.

Ngoài ra, V1 còn đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự, dân sự theo quy định của pháp luật và dành quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng theo quy định pháp luật.

Quan điểm của luật sư Trương Hoàng P2 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh P trình bày: Hoàn toàn thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát tỉnh Trà Vinh về việc truy tố bị cáo Nguyễn Minh P về tội danh “Giết người” và tình tiết định khung theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, đề nghị với Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi áp dụng hình phạt: Trong điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành thật khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Hoàng P4 là con của bị hại Nguyễn Việt P3 cũng là con của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình có người thân tham gia cách mạng, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả cho gia đình bị hại tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh số tiền 5.000.000 đồng, với các tình tiết giảm nhẹ nêu trên bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 18 năm đến 20 năm tù là có phần nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa.

Trong phần tranh luận bà Lê Thị H1 đề nghị với Hội đồng xét xử xem xét, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Minh P từ 18 năm đến 20 năm tù bà không đồng ý, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P với mức hình phạt cao hơn.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên người bào chữa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa Vị đại diện Viện kiểm sát, những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật, chứng cứ không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của luật Tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay người làm chứng được triệu tập lần thứ nhất nhưng có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt người làm chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng về việc xét xử của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[1] Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố xét xử, thấy rằng các quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng theo quy định của pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại. Vì vậy, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người tiến hành tố tụng, người bào chữa tại phiên tòa đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Minh P khai nhận: Bị cáo P và bị hại Trần Việt P5 là vợ chồng nhưng đã ly hôn, bị cáo muốn quay lại chung sống với bị hại nhưng bị hại không đồng ý nên bị cáo P đã nảy sinh ý định giết bị hại P5 rồi tự xác, nên vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 23/01/2024, tại phòng ngủ trong nhà của bị cáo Nguyễn Minh P tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo P đã dùng tay xô làm bị hại P5 té ngã ngửa trên nệm, bị cáo dùng một tay lấy dao, một tay bị cáo P bóp cổ bị hại P5 đè xuống nệm dùng dao đâm liên tục 05 nhát trúng vào vùng ngực, vùng bụng và vùng thắt lưng của bị hại P5 dẫn đến bị hại tử vong. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự về tội danh “Giết người”. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Nguyễn Minh P về tội “Giết người” theo tình tiết định khung tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ phù hợp với hành vi bị cáo thực hiện và đúng quy định của pháp luật về khung hình phạt và tội danh.

[3] Xét tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, khi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự, bản thân bị cáo nhận thức đầy đủ rằng tính mạng con người là rất quí, chỉ vì muốn bị hại P5 quay lại sống chung nhưng bị hại P5 không đồng ý, bị cáo dùng dao đâm liên tục nhiều nhát trúng vào vùng ngực, vùng bụng và vùng thắt lưng của bị hại, gây hậu quả đó là gây ra cái chết cho bị hại P5. Do đó hành vi trên thể hiện tính chất côn đồ với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến khách thể rất quan trọng mà được Bộ luật Hình sự đặc biệt bảo vệ là quyền được sống của con người, với hành vi xem thường pháp luật và tính mạng người khác mà bị cáo đã giết chết bị hại, gây ra sự đau thương mất mát không lấy gì bù đắp được cho gia đình bị hại và con bị hại và bị cáo trong vụ án. Do đó cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ sức để răn đe giáo dục và phong ngừa trong công tác đấu tranh với loại tội phạm nguy hiểm này trong tình hình hiện nay.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét, đánh giá áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo để đảm bảo tính áp dụng hình phạt khách quan, toàn diện đúng hành vi và hậu quả của bị cáo gây ra, bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành thật khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, anh Nguyễn Hoàng P4 là con ruột của bị cáo và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình của bị cáo ông Nguyễn Văn P1 cha ruột của bị cáo có công cách mạng được nhà nước tặng quân chương chiến sỹ giải phóng, bị cáo tác động gia đình khắc phục 5.000.000 đồng cho gia đình bị hại nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh. Đây là những tình tiết áp dụng cho bị cáo làm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay người đại diện hợp pháp cho bị hại là bà Lê Thị H1 yêu cầu bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho bà theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà H1 là phù hợp với Điều 591 Bộ luật dân sự. Bởi vì bị hại Nguyễn Việt P3 là con ruột của bà Lê Thị H1, việc bị hại Nguyễn Việt P3 bị bị cáo giết chết là một tổn thất rất lớn cho bà H1 nên bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường, vì vậy Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho bà Lê Thị H1 là người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Việt P3 số tiền 234.000.000 đồng, tương đương 100 tháng lương tối thiểu tại thời điểm xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay bà H1 không yêu cầu bồi thường tiền mai táng phí và anh Nguyễn Hoàng P4 không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét. Số tiền 5.000.000 đồng anh Đ nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh, tại phiên tòa ngày hôm nay anh Đ không yêu cầu nhận lại mà đồng ý nộp để khắc phục cho bị cáo, vì vậy số tiền 5.000.000 đồng giao cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành bản án.

[5] Về biện pháp Tư pháp và xử lý vật chứng:

- 01 (một) ly thuỷ tinh, đường kính miệng ly 8,2cm, đường kính đáy ly 6,5cm, chiều cao 8,4cm.

- 01 (một) con dao dạng dao Thái lan dài 26,5cm, cán dao bằng nhựa màu đỏ dài 11,3cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15,2cm, mũi dao nhọn, một cạnh sắc, bề rộng nhất 2,5cm.

- 01 (một) áo ngực nữ màu đen, áo bị đứt quay bên trái.

- 01 (một) sợi dây nhựa màu đen dài 111cm, rộng 0,4cm, lõi bằng kim loại, hai đầu dây có vòng thắt và nút thắt cố định.

- 01 (một) mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai màu trắng, dính nhiều chất màu đỏ rãi rác.

- 01 (một) cái áo kiểu cổ tròn màu vàng, tay xác nách, phần thân áo bên trái có đường cắt từ vạt áo đến cổ, áo có dính nhiều chất màu đỏ và bị thủng 04 lỗ.

- 01 (một) quần dài nữ màu đen bằng vãi thun.

- 01 (một) quần lót nữ màu hồng.

- 01 (một) cái quần dài nam bằng vải màu xám.

- 01 (một) cái quần ngắn (quần đùi) bằng vải thun màu nâu, mỗi bên ống quần có 03 sọc màu vàng.

- 01 (một) quần lót nam màu Tím.

- 01 (một) chai nhựa màu trắng cao 17cm, đường kính thân chai 7,5cm, đường kính miệng chai 4,0cm trên thân chai có nhãn dán “Thuốc trừ sâ u BAKARI” và một nắp chai màu đỏ.

- 01 (một) sợi dây điện màu hồng dài 1m, đường kính 0,5cm, vỏ ngoài bằng nhựa màu hồng, bên trong lõi bằng kim loại.

- 01 (một) sợi dây điện màu xanh dài 79cm, đường kính 0,5cm, vỏ ngoài bằng nhựa màu xanh, bên trong lõi bằng kim loại.

- 01 (một) miếng gạc y tế có chứa máu của Nguyễn Minh P.

- 01 (một) miếng gạc y tế có chứa máu của Nguyễn Việt P3.

- 01 (một) miếng gạc y tế thu mẫu máu M1 tại khu vực ký hiệu 3 trong biên bản khám nghiệm hiện trường.

- 01 (một) miếng gạc y tế thu mẫu máu M2 trên sàn nhà bên trong phòng ngủ 1.

Đây là các vật chứng liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng nên Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) cái điện thoại loại cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A11, màu xanh nước biển bên trong có gắn thẻ sim số 0345.252.996 của bị hại Nguyễn Việt P3, tại phiên tòa anh Nguyễn Hoàng P4 yêu cầu được nhận lại, Hội đồng xét xử quyết định giao trả lại cho gia đình bị hại là anh Nguyễn Hoàng P4 con của bị hại Nguyễn Việt P3.

[6] Đề nghị của Kiểm sát viên xét xử sơ thẩm tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, phù hợp với quy định của pháp luật và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận

[7] Quan điểm người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa hôm nay đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận, tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn thấp hơn mức hình phạt của Viện Kiểm sát đề nghị là chưa phù hợp, bởi vì bị cáo thực hiện hành vi liên tục đâm

năm nhát dao vào người của bị hại, trong đó có bốn nhát dao là vào vùng nguy hiểm cho tính mạng của bị hại, bị cáo thực hiện hành vi cho tới khi bị cáo nghĩ rằng bị hại chết mới dừng lại, hành vi phạm tội của bị cáo mang tính côn đồ tính nguy hiểm cao khi thực hiện hành vi phạm tội, do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận quan điểm của người bào chữa xét xử bị cáo hình phạt tù có thời hạn thấp hơn mức đề nghị của Kiểm sát viên.

Đối với quan điểm người đại diện hợp pháp cho bị hại bà Lê Thị H1 đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P với mức hình phạt cao hơn mức hình phạt mà Kiểm sát đề nghị, trong quá trình nghị án Hội đồng xét xử có căn nhắc xem xét, tuy nhiên chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm a khoản 2 Điều 268, Điều 269 và Điều 299 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh P phạm tội “Giết người”

Căn cứ: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P 20 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/02/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Minh P để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 13, khoản 1 Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Minh P bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại bà Lê Thị H1 số tiền tổn thất tinh thần 234.000.000 đồng (hai trăm ba mươi bốn triệu đồng).

Giao Cục thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh tiếp tục quản lý số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) do ông Nguyễn Minh Đ đã nộp theo biên lai số 0001281 ngày 29/5/2024 để đảm bảo thi hành án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành theo mức lãi quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- Về biện pháp Tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy

  • - 01 (một) ly thuỷ tinh, đường kính miệng ly 8,2cm, đường kính đáy ly 6,5cm, chiều cao 8,4cm.
  • - 01 (một) con dao dạng dao Thái lan dài 26,5cm, cán dao bằng nhựa màu đỏ dài 11,3cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15,2cm, mũi dao nhọn, một cạnh sắc, bề rộng nhất 2,5cm.
  • - 01 (một) áo ngực nữ màu đen, áo bị đứt quay bên trái.
  • - 01 (một) sợi dây nhựa màu đen dài 111cm, rộng 0,4cm, lõi bằng kim loại, hai đầu dây có vòng thắt và nút thắt cố định.
  • - 01 (một) mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai màu trắng, dính nhiều chất màu đỏ rãi rác.
  • - 01 (một) cái áo kiểu cổ tròn màu vàng, tay xác nách, phần thân áo bên trái có đường cắt từ vạt áo đến cổ, áo có dính nhiều chất màu đỏ và bị thủng 04 lỗ.
  • - 01 (một) quần dài nữ màu đen bằng vãi thun.
  • - 01 (một) quần lót nữ màu hồng.
  • - 01 (một) cái quần dài nam bằng vải màu xám.
  • - 01 (một) cái quần ngắn (quần đùi) bằng vải thun màu nâu, mỗi bên ống quần có 03 sọc màu vàng.
  • - 01 (một) quần lót nam màu Tím.
  • - 01 (một) chai nhựa màu trắng cao 17cm, đường kính thân chai 7,5cm, đường kính miệng chai 4,0cm trên thân chai có nhãn dán “Thuốc trừ sâ u BAKARI” và một nắp chai màu đỏ.
  • - 01 (một) sợi dây điện màu hồng dài 1m, đường kính 0,5cm, vỏ ngoài bằng nhựa màu hồng, bên trong lõi bằng kim loại.
  • - 01 (một) sợi dây điện màu xanh dài 79cm, đường kính 0,5cm, vỏ ngoài bằng nhựa màu xanh, bên trong lõi bằng kim loại.
  • - 01 (một) miếng gạc y tế có chứa máu của Nguyễn Minh P.
  • - 01 (một) miếng gạc y tế có chứa máu của Nguyễn Việt P3.
  • - 01 (một) miếng gạc y tế thu mẫu máu M1 tại khu vực ký hiệu 3 trong biên bản khám nghiệm hiện trường.
  • - 01 (một) miếng gạc y tế thu mẫu máu M2 trên sàn nhà bên trong phòng ngủ 1.

* Giao trả lại cho anh Nguyễn Hoàng P4 01 (một) cái điện thoại loại cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A11, màu xanh nước biển bên trong có gắn thẻ sim số 0345.252.996 của bị hại Nguyễn Việt P3.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Minh P phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 11.700.000 đồng ( mười một triệu bảy trăm nghìn đồng ) án phí dân sự sơ thẩm.

“Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biệt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày án sơ thẩm đã tuyên.

Nơi nhận:

- TANDCC;

- VKSNDCC;

- VKSND tỉnh Trà Vinh;

- Phòng hồ sơ - CA tỉnh Trà Vinh;

- TTG - CA tỉnh Trà Vinh;

- Cục THADS tỉnh Trà Vinh;

- Bị cáo;

- Đương sự;

- Luật sư;

- Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về giết người

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger